Order Allow,Deny Deny from all # but now allow just *certain* necessary files: Order Allow,Deny Allow from all Nội dung tư tưởng yêu nước Việt Nam

Nội dung tư tưởng yêu nước Việt Nam

(Cập nhật lần cuối vào: 07/02/2021)

Chủ nghĩa yêu nước là tư tưởng xuyên suốt trong lịch sử phát triển của tư tưởng Việt Nam nói chung và tư tưởng triết học Việt Nam nói riêng. Tư tưởng này là truyền thống, ý chí và tình cảm xã hội về độc lập dân tộc, về chủ quyền quốc gia, về chiến lược và sách lược đánh thắng kẻ thù, về hiểu biết và vận dụng quy luật chiến tranh, đấu tranh bảo vệ Tổ quốc – nghĩa là nói lên cơ sở lý luận của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Nội dung cơ bản của tư tưởng yêu nước được thể hiện trên các phương diện:

Nhận thức về dân tộc và quốc gia độc lập

Sự hình thành cộng đồng người Việt, dân tộc Việt Nam cũng là một tất yếu khách quan của quá trình phát triển lịch sử của xã hội Việt Nam. Vì vậy, dân tộc Việt Nam cũng hình thành từ thị tộc này sang bộ lạc khác. Do điều kiện lịch sử hình thành và phát triển của cộng đồng người Việt, người Việt thường xuyên phải đấu tranh với các cộng đồng khác để xâm lược, đặc biệt là chống lại cộng đồng người Hán đông hơn, mạnh hơn để thôn tính. Ý thức dân tộc và độc lập dân tộc của người Việt Nam cũng là một quá trình.

Trước hết, xuất phát từ cuộc đấu tranh tự vệ của cộng đồng người Việt và câu hỏi thường gặp của người Việt là làm thế nào để chứng minh rằng cộng đồng người Việt khác với cộng đồng người Hán và bình đẳng với cộng đồng người Hán của người Việt. Tư tưởng này đã trở thành một định mệnh (quan điểm của Lý Thường Kiệt), một chân lý hiển nhiên, không thể chối cãi về sự khác biệt của người Việt và người Hán về lãnh thổ, kinh tế, ngôn ngữ, phong tục tập quán và văn hóa.

Trên lĩnh vực nhận thức luận, nhận thức về dân tộc và quốc gia độc lập đã đặt ra cho các nhà tư tưởng về xã hội phong kiến ​​Việt Nam nhiệm vụ nghiên cứu sâu, rộng, toàn diện hơn về cộng đồng người Việt, vai trò của cộng đồng người Việt. Nguyễn Trãi là người đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử này. Lý luận của Nguyễn Trãi đạt đến đỉnh cao về quan niệm dân tộc và độc lập dân tộc dưới chế độ phong kiến ​​Việt Nam, nhưng lý luận trên tỏ ra bất lực khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Phải mất hơn nửa thế kỷ sau – tức là vào những năm 20 của thế kỷ 20 – Hồ Chí Minh mới tìm ra lý luận cứu nước mới và bảo đảm cho khái niệm dân tộc, quốc gia độc lập có những sắc thái mới trong mối quan hệ tuổi.

Khái niệm về nhà nước của một nước độc lập, bình đẳng với phương Bắc

Trước khi bị phương Bắc đô hộ, người Việt đã có nhà nước Văn Lang và Âu Lạc. Trong thời kỳ Bắc thuộc, lãnh thổ của bộ tộc Việt đã trở thành một bộ phận của người Hán. Người Việt Nam đã chiến đấu chống lại ách thống trị của người Hán để khẳng định quyền xây dựng một quốc gia độc lập ngang hàng với phương Bắc. Vì vậy, vấn đề Quốc huy, thủ đô, quốc hiệu, quốc hiệu, tên thời đại là yêu cầu khách quan của lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Vì vậy, trong từng thời kỳ lịch sử, sau khi giành được độc lập, các triều đại phong kiến ​​Việt Nam đều đáp ứng những yêu cầu trên. Chẳng hạn, Lý Bí đã từ bỏ những tên gọi mà chế độ phong kiến ​​phương Bắc đặt ra cho nước ta như: Giao Chỉ; “Giao Châu”; “Nam Giao”, v.v. những tên tuổi gắn liền với thời Bắc thuộc, và đặt tên nước là Vạn Xuân. Rồi nhà Đinh gọi là Đại Cồ Việt, nhà Lý gọi là Đại Việt … Tên người đứng đầu đất nước cũng đổi từ Vương thành Đế, từ Trưng Vương thành Lý Nam Đế (Hoàng Đế). Kinh đô cũng dời từ Cổ Loa ra Hoa Lư, rồi từ Hoa Lư ra Thăng Long. Như vậy, là thời kỳ đầu độc lập, Việt Nam – một quốc gia phong kiến ​​nói chung từ quốc hiệu, đế quốc, đến niên hiệu, kinh đô, v.v … đã được nhận thức đầy đủ và ở đó mỗi danh xưng là một tư thế của nền độc lập, quyền tự chủ và quyền tự chủ của quốc gia.

Nhận thức về nguồn gốc động lực của cuộc kháng chiến cứu nước và giữ nước Quốc gia.

Lý thuyết về quốc gia độc lập và quốc gia có chủ quyền là một vũ khí quan trọng trong

lịch sử dựng nước của dân tộc Việt Nam mà vấn đề một khoa học, một nghệ thuật chiến tranh bảo vệ Tổ quốc phải được hình thành và phát triển cũng là một yêu cầu cấp thiết của quá trình tìm hiểu cội nguồn các loài vật. và bảo vệ đất nước.

Vấn đề khái quát từ thực tế chiến đấu, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn thành lý luận để phổ biến rộng rãi trong xã hội là yêu cầu khách quan của các sứ quân đối với đất nước trong lịch sử dân tộc. Điều đó khẳng định ông cha ta rất coi trọng sức mạnh của cộng đồng và phát huy sức mạnh này nhân danh sự thống nhất giữa lợi ích của dân tộc, lợi ích của quốc gia và lợi ích của mọi gia đình. Tư tưởng này đã được Trần Quốc Tuấn yêu cầu: “Trên dưới là một, lòng dân không chia cắt”, vì “Vua tôi và tôi, anh em hòa thuận, nước góp, nhà kẻ thù bị bắt. “. Nguyễn Trãi cũng đã viết:” Quân tử hòa rượu thủy, trên dưới đều như con “. Và đến Hồ Chí Minh đã nêu nguyên tắc:” Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công , thành công, thành công tốt đẹp “.

Trong lịch sử phát triển của dân tộc dưới các hình thức khác nhau, ông cha ta đều có những quan điểm tích cực về coi trọng vai trò của con người. Đó là những suy nghĩ của Lý Công Uẩn khi ông khẳng định: “Trên dưới tuân theo mệnh lệnh của trời, dưới theo ý dân, hợp ý thì thay”, hay ở Nguyễn Trãi: “Việc nhân nghĩa là giữ hòa bình “, v.v … Tư tưởng này đã là cơ sở tư tưởng của nhân loại, phương pháp tiếp cận nhân ái, các biện pháp hạn chế xung đột giai cấp trong xã hội và vì sự thịnh vượng chung của quốc gia, dân tộc. cao hơn và mang chất mới của thời đại Hồ Chí Minh.