Order Allow,Deny Deny from all # but now allow just *certain* necessary files: Order Allow,Deny Allow from all Hướng dẫn học sinh tiểu học tự học ở nhà

Hướng dẫn học sinh tiểu học tự học ở nhà

Tự học ở học sinh tiểu học rất khác so với học sinh ở bậc đại học. Việc học tập tự định hướng của học sinh tiểu học bắt nguồn từ việc học tập do giáo viên và người lớn hướng dẫn. Đó là một quá trình mà giáo viên luôn cẩn thận hướng dẫn học sinh khi cần thiết hoặc gợi ý học sinh giúp đỡ lẫn nhau. Học sinh cố gắng hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình bằng cách tự nghiên cứu sách giáo khoa, tài liệu và hướng dẫn của giáo viên, bạn bè của bạn, v.v.

Bạn đang cố gắng: Hướng dẫn học sinh tiểu học tự học ở nhà

Học sinh tiểu học từ 6 đến 11 tuổi chưa có nhiều thói quen tự học bằng cách làm việc với tài liệu, sách giáo khoa. Ngoài ra, với việc học 2 buổi / ngày, học sinh không phải làm bài và học ở nhà nên đã giảm bớt thói quen tự học. Trong quá trình giảng dạy trên lớp, một số giáo viên ít chú ý dạy, quen tự học, tự làm, sách giáo khoa, tài liệu tự học làm chậm khả năng phát triển của trẻ. Học tập và sáng tạo làm cho kết quả học tập và giáo dục của một số học sinh không đạt như mong muốn.

*

– Giáo viên cần giáo dục và rèn luyện cho học sinh thói quen tự học bằng cách đặt câu hỏi về bài học và các vấn đề khác trong xã hội và tự nhiên. Tìm cách giải quyết thắc mắc khi bạn tự học những kiến ​​thức hiện có, qua tài liệu, báo, tạp chí, phương tiện truyền thông, Internet, thầy cô, người lớn, bạn bè.

– Tạo niềm say mê, hứng thú và yêu thích môn học: Có hứng thú học tập, tự giác học tập sẽ giúp học sinh vượt qua những áp lực, mệt mỏi và đương đầu với quá trình học tập. Cũng có thể khi bắt đầu tự học, người học không hứng thú, ít hứng thú, nhưng chính trong quá trình tự học, với những khám phá mới, cách tiếp cận mới, người học đi từ chỗ ít hứng thú hơn. ít quan tâm. nhiều hứng thú, do việc học chỉ là một hoạt động bình thường (nghĩa là) dần dần trở thành niềm đam mê, tự giác, có sự thôi thúc bên trong như một nhu cầu tất yếu của cá nhân người học. Giáo viên nên kết hợp nhiều hình thức như giới thiệu chủ đề, tạo chủ đề hấp dẫn dựa trên những lợi ích mà họ sẽ nhận được từ nó…. Từ khi được dạy, trẻ có cách quan sát, hình thành thói quen đặt câu hỏi trước sự quan sát của mình hoặc được giao nhiệm vụ trong học tập và các hoạt động khác. Hãy nhiệt tình với cách giáo viên đặt ra vấn đề, tỏ ra thú vị và một mặt cũng giao cho họ nhiệm vụ. Có những câu hỏi mà các em không biết và không hứng thú nhưng khi thấy giáo viên đặt ra những vấn đề thú vị, các em cảm thấy cần phải học để tìm hiểu. Niềm đam mê và hứng thú hiếm khi tự nhiên mà có. nhưng nó cũng hình thành trong cuộc sống, và niềm đam mê, yêu thích môn học phải hình thành và phát triển chủ yếu từ người thầy, cùng với sự tham gia, động viên của bạn bè và người lớn.

*

– Giảm thiểu áp lực học tập, nhất là đối với học sinh tiểu học. Nếu các em không bị áp lực, tâm lý thoải mái, vui vẻ, có chí cầu tiến, tìm tòi khám phá thì hứng thú học tập của các em sẽ phát triển tốt. Giảm áp lực học tập cho học sinh không chỉ là trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn mà còn là trách nhiệm của gia đình học sinh. Giáo viên và phụ huynh học sinh cần có kế hoạch tạo cho các em nhiều cơ hội được học tập, thử nghiệm một cách tự nhiên, thoải mái, không gò bó với nhiều hình thức và phương pháp học tập đa dạng để phát huy tính tích cực, nhận thức trong học tập của các em.

– Hướng dẫn và hỗ trợ sinh viên trong quá trình tự học: đảm bảo khi sinh viên cần giúp đỡ sẽ được giúp đỡ kịp thời. Khi tự học trong lớp (làm bài tập, thực hành), hãy tham gia vào các hoạt động không để học sinh bị mắc kẹt quá lâu mà không có sự giúp đỡ hoặc hỗ trợ. Khi giao nhiệm vụ cho học giả, cần để họ có thời gian nghiên cứu, không giám sát quá mức (tạo áp lực), để họ chủ động tìm kiếm, tìm kiếm nguồn thông tin để giải quyết vấn đề. Đặc biệt, việc không giúp đỡ, hướng dẫn khi không cần thiết sẽ tạo cho trẻ thói quen ở lại mà không suy nghĩ, tìm tòi. Nó vẫn có nghĩa là giám sát, nhưng giáo viên tạo ra quyền tự chủ cho học sinh khi tự học.

Xem thêm: Hướng dẫn lập bảng cân đối tài khoản theo thông tư 133 _ Mẫu F01

*

– Giáo viên quan tâm sâu sát đến tiến độ tự học của học sinh khi được giao và hoàn thành nhiệm vụ học tập. Nắm bắt khả năng và sở thích của học sinh đối với môn học. Việc phát hiện ra năng lực và sở thích của học sinh là một thành công lớn trong việc thúc đẩy hoạt động tự học của học sinh. Khi nắm bắt được khả năng, sở thích giáo viên có thể giao cho trẻ nhiệm vụ phù hợp với khả năng của trẻ, sở thích có thể “vượt mức” để trẻ tự tìm tòi, thực hiện.

– Khuyến khích mức độ đạt được và khuyến khích nhanh chóng những tiến bộ dù là nhỏ nhất của học sinh trong quá trình học tập. Một số giáo viên có thói quen chỉ khen ngợi, yêu cầu cả lớp tuyên dương học sinh khá, giỏi khi làm được việc gì đó mà ít chú ý động viên, khen ngợi những tiến bộ nhỏ của học sinh còn lại trước tập thể. Đối với học sinh tiếp thu chậm, đối với bạn tốt thì sự tiến bộ rất nhỏ của các em nhưng lại rất lớn đối với các em; Những lời động viên và khen ngợi từ bà cố của bạn là động lực to lớn cho sự tiến bộ trong tương lai.

*

– Hướng dẫn các em lập thời gian biểu hoàn thành bài tập về nhà, đọc bài trong sách giáo khoa, phân công nghiên cứu nội dung, bài tập mới để phát triển kỹ năng. Có nghĩa là từ việc xây dựng lịch học, trong ngày, cả ngày, cả tuần, cũng có thể dài hơn. Hướng họ lựa chọn, sắp xếp thứ tự ưu tiên cho từng công việc, việc gì làm trước, việc gì làm sau trong một khoảng thời gian (trong buổi, trong ngày, ngày hôm sau …). Đối với học sinh tiểu học, học sinh càng nhỏ tuổi, giáo viên cần đưa ra những nhiệm vụ cụ thể, chi tiết, ngắn gọn, phù hợp để giúp các em tự hoàn thành công việc. Mức độ tự học cần thiết để hoàn thành công việc học tập được nâng dần theo độ khó nhằm phát triển khả năng và tạo hứng thú khám phá cho trẻ.

– Để giúp học sinh thực hiện thời khóa biểu, giáo viên hướng dẫn học sinh cách chủ động lựa chọn và tiếp nhận thông tin từ các nguồn khác nhau và linh hoạt như sách báo, bài giảng, Internet, cha mẹ học sinh … đúng cách trước khi lựa chọn các đánh giá dựa trên bằng chứng. Áp dụng thông tin và kiến ​​thức thu được để làm bài tập, huấn luyện, thảo luận, xử lý tình huống, rút ​​ra bài học, v.v. nguồn thông tin là nguồn thông tin chính xác, nhanh nhất hay nguồn thông tin nào để tham khảo phù hợp và đáng tin cậy.

*

-Giáo viên hướng dẫn, giúp đỡ học sinh tự đánh giá bài làm của mình. Khi hoàn thành một nhiệm vụ (một bài toán, một bài tập kinh doanh, v.v.), học sinh tự đánh giá, tức là tự kiểm tra kết quả công việc và tự kiểm tra mức độ hoàn thành trong chu trình công việc, tìm ra nguyên nhân. những điều mình chưa làm được và có thể làm khi cần thiết để có hướng phát triển hoặc vươn xa hơn. Học sinh sẽ tự đánh giá được khả năng học tập của bản thân. Để quá trình tự kiểm tra, đánh giá đạt kết quả tốt, giáo viên phải tạo cho học sinh thói quen trả lời câu hỏi, tự đặt câu hỏi và tự giải quyết câu hỏi này, phối hợp trong nhóm bạn hoặc với sự giúp đỡ của giáo viên. , Cha mẹ…

Ngoài ra, giáo viên còn hình thành cho trẻ thói quen đọc sách, thói quen quan sát, đánh giá, nhìn nhận các sự kiện, hiện tượng xảy ra xung quanh; tạo niềm tin, ước mơ và hoài bão từ thần tượng …

Để hình thành thói quen tự học cho học sinh, giáo viên phải đảm bảo học sinh có đủ kiến ​​thức và kỹ năng cần thiết về môn học; Động lực giúp trẻ kiên nhẫn trong học tập. Kiên trì không nên bỏ cuộc, chán nản mỗi khi gặp khó khăn khi tìm kiếm thông tin mình cần, khi chưa tìm được câu trả lời, câu trả lời. Bên cạnh đó, giáo viên cần đổi mới phương pháp giảng dạy để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo ở học sinh. Giờ dạy trên lớp phải là lúc các hoạt động học tập của học sinh được giáo viên thiết kế, tổ chức, kiểm tra, đánh giá một cách khoa học, phù hợp nhằm tạo hứng thú học tập và nhu cầu tìm tòi, khám phá, phản biện và giải quyết vấn đề.