Ban chỉ đạo
  • Tiến sỹ Lê Doãn Hợp – Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam, nguyên UVBCHTW Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông Tin Truyền Thông
  • Thượng tướng, Tiến sỹ - Viện sỹ Nguyễn Huy Hiệu – AH LLVT ND, nguyên UVBCHTW Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
  • Trung tướng Nguyễn Quốc Thước – Nguyên Ủy viên BCHTW Đảng, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, nguyên Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội CCB Việt Nam
  • Trung tướng Nguyễn Trung Thu – AHLLVTND, Phó Tổng Tham mưu trưởng QDNDVN, Nguyên Tư lệnh Quân khu 5
  • Đồng chí Đỗ Quý Doãn - Thứ trưởng Bộ Thông tin & Truyền thông
  • Trung tướng Triệu Xuân Hòa – AH LLVT ND, Phó Trưởng ban chỉ đạo Tây Nguyên, nguyên Tư lệnh Quân khu 7
  • Phó Đô đốc Nguyễn Văn Tình – AH LLVT ND, Nguyên UVBCHTW Đảng, nguyên Chính ủy Quân Chủng Hải Quân
  • Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương – Trưởng BLL CCB Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam tại Lào, nguyên Chính ủy kiêm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, Trưởng BLL của 15 BLL các nhà tù cách mạng Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ LĐ – TB – XH
Thượng tướng Đinh Đức Thiện - Đức và tài

Thượng tướng Đinh Đức Thiện - Đức và tài

Wednesday, 14/01/2015, 14:11:00 PM
Trong lịch sử cách mạng nói chung, lịch sử ngành giao thông vận tải, ngành dầu khí nói riêng, Thượng tướng Đinh Đức Thiện là một người có đóng góp rất to lớn. Đặc biệt ông là một lãnh đạo chủ chốt trong việc xây dựng tuyến đường mòn Hồ Chí Minh – tuyến đường Trường Sơn 559 huyền thoại trong chiến tranh chống xâm lược của Việt Nam.

 

Một người có nhiều cống hiến cho đất nước

 

Ông tên thật là Phan Đình Dinh, sinh năm 1913 tại xã Nam Vân, huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Định. Sinh trưởng trong một gia đình nhà nho nghèo, yêu nước, cha mất sớm, mẹ tần tảo nuôi 8 người con, trong hoàn cảnh kinh tế hết sức chật vật. Ông là em trai của Lê Đức Thọ (Phan Đình Khải) anh trai của Mai Chí Thọ (Phan Đình Đống) và là con thứ 5 trong gia đình.

 

Sớm được giác ngộ cách mạng, anh tham gia hoạt động từ năm 1930, bị bắt giam ở Nam Định, sau đó địch không đủ căn cứ buộc tội, nên đến năm 1931, chúng phải thả anh. Ra tù, Thiện vào Sài Gòn làm công nhân và tiếp tục hoạt động cách mạng. Năm 1936, anh hoạt động trong Hội Ái hữu công nhân và tham gia phong trào Mặt trận dân chủ. Năm 1939, anh được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 4/1940, thực dân Pháp lần thứ hai bắt giam anh ở nhà tù Nam Định, sau đưa về nhà lao Hỏa Lò (Hà Nội). Năm 1943, được ra tù, dù bị chính quyền thực dân quản lí rất chặt, Thiện vẫn tìm cách xây dựng phong trào cách mạng ở địa phương và tìm bắt được liên lạc với Xứ ủy Bắc Kỳ. Năm 1944, đồng chí được Xứ ủy điều động lên Vĩnh Yên, tham gia Ban Cán sự Đảng của tỉnh, rồi được chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Yên.

Sau Cách mạng Tháng Tám, ông làm Bí thư, kiêm Chủ tịch tỉnh Bắc Giang, sau đó giữ nhiều trọng trách ở Khu uỷ Việt Bắc và các chức vụ quan trọng khác của chính phủ, quân đội vào những thời khắc khó khăn nhất.

 

Năm 1950, ông được điều vào quân đội giữ chức Cục trưởng Cục vận tải. Năm 1954, là Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, đặc trách nhiệm vụ đảm bảo hậu cần tiếp tế các chiến dịch, đặc biệt Đông - Xuân 1953-1954, chuẩn bị nhu cầu đáp ứng lương thực chiến dịch Điện Biên Phủ.

Đến năm 1965, ông được điều trở lại quân đội, giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục hậu cần, Ủy viên Quân ủy Trung ương với nhiệm vụ vận tải tiếp tế cho cách mạng miền Nam. Trên cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, ông là một trong những lãnh đạo chủ chốt xây dựng con đường chiến lược - đường Hồ Chí Minh, mật danh 559, chi viện chiến lược cho chiến trường miền Nam. Đây là một nhiệm vụ rất nặng nề. Đế quốc Mỹ đã dùng chiến thuật không quân rải thảm bom trên tất cả các tuyến đường, đặc biệt khu Bốn và dọc tuyến đường Trường Sơn để ngăn chặn từ xa nguồn tiếp viện của miền Bắc cho chiến trường miền Nam. Ông cho dùng đường ống bơm xăng qua sông Lam, sông La vào Hà Tĩnh. Ý tưởng lập đường ống xăng dầu của ông vào thời điểm đó thật táo bạo, vượt sự hình dung của nhiều người, ngay cả địch cũng không thể ngờ tới. Trải qua 7 năm (1968-1975), dưới sự chỉ huy của các tướng Đinh Đức Thiện, Đồng Sỹ Nguyên…, bộ đội xăng dầu đã vượt qua muôn vàn gian khổ và hy sinh, xây dựng và quản lý vận hành được một tuyến đường ống chiến lược từ biên giới phía Bắc đến miền Đông Nam Bộ, với chiều dài hơn 5.000 km, cùng hơn 100 khu kho có sức chứa trên 300.000m3. Đường ống xăng dầu là một kỳ tích của quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, biểu hiện sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân.

 

Từ 1957 đến 1964, ông là Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng, Bí thư Đảng ủy và Giám đốc Khu công nghiệp gang thép Thái nguyên chịu trách nhiệm quản lý xây dựng khu công nghiệp lớn nhất miền Bắc lúc đó. Đây là khu công nghiệp đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam có dây chuyền sản xuất liên hợp khép kín từ khai thác quặng sắt đến sản xuất gang, phôi thép và cán thép.

 

Về mặt chính quyền dân sự, năm 1969, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Cơ khí luyện kim, năm 1972 là Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải. Sau năm 1975, ông được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban kế hoạch Nhà nước.

 

Tháng 9/1974, ông làm Chủ nhiệm Tổng cục kỹ thuật. Năm 1975, ông là đại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ông được Chính phủ giao nhiệm vụ tiếp quản các cơ sở vật chất và tài liệu của các công ty dầu khí tại miền Nam, đồng thời thành lập Tổng cục Dầu mỏ và khí đốt; Tại Đại hội Đảng IV (1976), ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Cùng năm 1976, ông là Bí thư Đảng ủy Tổng cục Dầu khí, Bộ trưởng phụ trách công tác dầu khí (đến năm 1981). Ông cùng các cộng sự của mình là cựu Cục trưởng Cục Dầu khí đầu tiên, nhà khoa học Nguyễn Văn Biên tham gia việc khởi thảo, hiện thực hóa Hiệp định hợp tác Việt Nam và Liên Xô về thăm dò, khai thác dầu khí tại lục địa Nam Việt Nam. Ông là người thích mạo hiểm, thích khám phá cái mới. Ông hiểu ngành Dầu khí là ngành đặc thù, đòi hỏi công nghệ cao, tri thức tổng hợp: địa chất, vật lý, hóa học, kinh tế học, cơ khí, dịch vụ kỹ thuật ở tầm cao. Vì thế đích thân ông đi đến nhiều tỉnh, thành trong cả nước để tìm địa điểm xây dựng cơ sở kỹ thuật cho ngành Dầu khí, cuối cùng xác định lấy Vũng Tàu làm nơi xây dựng hạ tầng ban đầu, đặc biệt làm cảng dầu khí cho Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro. Sự quyết đoán sáng suốt này tạo tiền đề quan trọng cho những kế hoạch tìm kiếm, thăm dò khai thác dầu khí sau này.

 

Năm 1980 - 1982, ông được bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải. Năm 1982, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Ông đột ngột qua đời vì một tai nạn giao thông, ngày 20/1/1987.

 

Tướng Thiện trong ký ức của tướng Nguyên

 

Nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của thượng tướng Đinh Đức Thiện, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã tập hợp những bài viết, tham luận tại lễ tưởng niệm ông ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh của một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội, những nhà cách mạng lão thành, cán bộ nghiên cứu… đã từng có thời kỳ công tác với đồng chí Đinh Đức Thiện, cho xuất bản cuốn sách Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu cần tài trí”. Trong bài viết của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Anh Đinh Đức Thiện là người trung kiên của Đảng, giác ngộ sớm, hoàn thành mọi nhiệm vụ dù khó khăn gian khổ, khi bị địch bắt cũng như khi hoạt động; một người chiến sĩ cộng sản gương mẫu; một cán bộ có đức có tài”.

Đáng chú ý là bài viết của Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, kể lại một số ký ức, kỷ niệm sâu đậm trong thời gian ông công tác cùng tướng Thiện:

 

“Năm 1946, tôi may mắn được cùng học lớp Nguyễn Ái Quốc khóa I với anh ở thị xã Hà Đông. Lúc ấy, tối đến, anh em trong lớp thường quây quần, để nghe anh kể chuyện tiếu lâm và lẽ sống của tuổi thanh niên, vì anh có cách nói chuyện rất sinh động, hấp dẫn. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, theo chỉ thị của Trung ương, lớp học phải kết thúc để cán bộ về chỉ đạo kháng chiến ở các tỉnh, thành phố. Lúc bấy giờ, tôi mới 23 tuổi, là bậc đàn em của anh. Thuở ban đầu, tôi mới biết anh Thiện thế đó.

 

Năm 1953, anh Thiện làm Cục trưởng Cục Vận tải, phụ trách tổ chức vận tải chi viện cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Lúc đó, tôi chỉ là phái viên kiểm tra của Tổng cục Chính trị. Trên đường công tác, khi qua Sở chỉ huy của anh Thiện ở Cò Nòi, Hát Lót, tỉnh Sơn La, tôi ghé thăm. Anh rất mừng. Vốn là con người hóm hỉnh, mở đầu anh nói ngay: “Thế nào, anh bạn đến kiểm tra, có cho tôi chiếc xe vận tải nào không?”. Tôi trả lời: “Thưa anh, đi qua được biết anh ở đây, tôi vào thăm. Xe vận tải thì chỉ anh mới có, còn tôi thì đào đâu ra”. Vừa hút thuốc lá quấn, vừa uống nước, anh Thiện lại nói vui: “Chỉ có các cậu là sướng, thắng bại ba tấc lưỡi, còn chúng tớ suốt ngày súng đạn, gạo cơm, mắm muối. Giá như lúc này mình có mấy trăm xe vận tải, cùng với mấy vạn dân công cùng ra trận, thì sức mạnh tổng hợp đó sẽ lớn vô cùng”. Tiếp theo, anh nói thêm về tình hình, các thuận lợi, khó khăn đang diễn ra hàng ngày. Tôi chỉ biết ngồi nghe và quan sát anh. Anh luôn nở nụ cười duyên dáng hồn nhiên và cách diễn đạt công việc thẳng tuột, không dè chừng ở một chỗ nào.

 

Tôi vừa nghe, vừa ngẫm suy về một con người phụ trách vận tải chi viện ở nơi chiến trận, trong hoàn cảnh lấy gùi thồ là chính mà sớm nuôi một hoài bão, một khát vọng có một đội quân vận tải cơ giới. Lúc đó, tôi chưa đủ trình độ để nghĩ về tầm nhìn của anh Thiện. Tôi mới nghĩ thoáng qua rất nhanh. “Đây là con người của hướng phát triển, con người của tốc độ”. Chỉ nông cạn thế thôi, nhưng từ tình cảm ban đầu, chuyển qua mối quan hệ gắn kết giữa anh Thiện và tôi, cứ phát triển dần qua năm tháng, mà cao điểm nhất là trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

 

Sau Hiệp định Giơnevơ (7/1954), với nguyện vọng nung nấu sẵn có, anh Thiện được Đảng và Nhà nước giao phụ trách xây dựng Khu gang thép Thái Nguyên, khu công nghiệp có quy mô lớn nhất lúc bấy giờ, đứa con đầu lòng của công nghiệp nặng, của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Ngay lúc đầu mới phát triển xây dựng, với tình cảm sẵn có, tôi đến tham quan và thăm anh. Tuy công việc bề bộn, anh vẫn để một tiếng đồng hồ giới thiệu cho tôi biết quy mô và tiến độ xây dựng Khu Công nghiệp gang thép. Khi kết thúc câu chuyện, anh nói: “Công việc mới mẻ, nặng nề quá, muốn làm được cần phải có một vạn quân đội, cộng với công nhân và kĩ sư của Nhà nước. Anh Võ Nguyên Giáp đã hứa đưa lực lượng quân đội chuyển ngành đến… Bọn mình là người trong cuộc hiểu rất rõ, bộ đội thì anh dũng có thừa, nhưng khi trong tay không có đủ đạn, đủ súng, đủ xe vận tải, đành phải rớt nước mắt, cắn răng để chấp nhận cuộc kháng chiến trường kỳ. Khu gang thép Thái Nguyên này ra đời là tiền đề để có các thứ nói trên, để xóa đi câu ngạn ngữ chế giễu “trứng chọi với đá”.

 

Ra về, tôi lại một dịp nữa nghĩ thêm về con người này. Từ đây, bắt đầu tôi nghĩ về tầm nhìn và hành động của anh Đinh Đức Thiện, tuy mới phôi thai.

Đầu năm 1967, tôi làm Tư lệnh Đoàn 559, kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Tiền phương, là trợ thủ trực tiếp giúp anh Thiện, đồng thời là Tư lệnh một Quân khu của Bộ Tổng Tư lệnh. Từ đây, sự liên hệ giữa anh Thiện và tôi là sự gắn kết giữa cấp trên trực tiếp với cấp dưới; vận hành trong một dây chuyền tổ chức thực hiện công cuộc chi viện cho các chiến trường ta và bạn ở nam bán đảo Đông Dương suốt 10 năm. Trong thời gian đó, tôi thực thụ đo được tầm nhìn và năng lực hành động của anh Thiện. Về nguyên tắc, bất luận một cán bộ phụ trách, một cấp thực hành nào trong quân đội, muốn làm tròn trách nhiệm, không thể xa rời chủ trương, đường lối của Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh. Anh Thiện cùng nằm trong quỹ đạo đó. Nhưng anh có một tầm nhìn chiến lược độc đáo. Anh là một nhà chiến lược về công tác hậu cần trong thời đánh Mỹ, một tham mưu đắc lực có tầm cỡ của Đảng, Nhà nước, quân đội trong thời đánh Pháp, đánh Mỹ và sau khi thắng Mỹ.

 

Theo tôi biết, nhiều việc lớn, do anh phụ trách được đưa ra thực hiện, phần lớn do anh đề nghị. Riêng những việc lớn trên tuyến đường Hồ Chí Minh chi viện chiến lược, từ năm 1964 trở đi, tôi biết khá đầy đủ, rõ ràng về vai trò của anh Thiện là thành viên của Quân ủy Trung ương, là nhân vật chính giúp Trung ương Đảng, Chính phủ, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh và Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp chỉ đạo tuyến đường Hồ Chí Minh suốt 10 năm. Khi thời gian đã lùi về quá khứ, tôi mới có những năm tháng để hiểu hết chiều sâu của tầm nhìn và năng lực hành động của anh.

 

Mùa khô năm 1964-1965, ở Tây Trường Sơn, trên đất bạn Lào, anh Phan Trọng Tuệ và anh Đinh Đức Thiện đã sang thử nghiệm việc vận tải cơ giới với một đơn vị vận tải 100 xe trên một cung đường dài 300 km. Ta mới bắt đầu tổ chức vận tải trong một thời gian rất ngắn, chưa hiểu được đặc điểm, quy luật đánh phá, ngăn chặn quyết liệt của địch, chưa hội tụ đủ các điều kiện tập trung thống nhất vào một đầu mối để đánh trả, nên cuộc thử nghiệm vận tải cơ giới đã không thành công.

 

Vào cuối năm 1966, Quân ủy Trung ương triệu tập một cuộc họp, dưới sự chủ trì của Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp để đánh giá lại việc tổ chức thực hiện vận tải trên tuyến đường Hồ Chí Minh mùa khô 1965, đặc biệt là việc thử nghiệm vận tải cơ giới không thành công (tôi được dự thính). Cuộc họp này thảo luận sôi nổi, có lúc gay gắt giữa hai loại ý kiến: Có nên tiếp tục vận tải cơ giới hay quay trở lại gùi thồ? Tôi rất ngạc nhiên, khi thấy anh Thiện và anh Tuệ là hai tác giả của cuộc thử nghiệm vận tải cơ giới không thành công, lại đứng dậy khẳng định: “Phải lấy vận tải cơ giới là chính, kết hợp gùi thồ ở nơi và lúc thấy cần”. Hai anh vừa tự phê bình thẳng thắn, vừa dũng cảm bác bỏ ý kiến quay về vận chuyển gùi thồ. Từ đúc kết của quá trình cách mạng Việt Nam “thất bại là mẹ thành công”, anh Thiện, anh Tuệ đã phân tích một cách lô gích sự cần thiết và cấp bách của vận tải cơ giới trong công cuộc chi viện cho các chiến trường miền Nam và hai nước bạn, do phải theo kịp hướng phát triển đi lên, vì mục đích cuối cùng phải đạt là: giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Hai anh mạnh mẽ đề nghị Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh hãy tập trung sức lực, trí tuệ của miền Bắc, của quân đội, sự chi viện của cá nước anh em, ưu tiên cho chiến trường miền Nam, trước hết tăng cường đồng bộ đủ mạnh cho đường Hồ Chí Minh, để thực hiện thành công công cuộc chi viện cho các chiến trường ta, bạn ở nam bán đảo Đông Dương. Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, một trong các nhà chiến lược quân sự lỗi lạc của Đảng và Nhà nước ta, khi kết luận đã theo hướng đề nghị của anh Thiện và anh Tuệ, nhấn mạnh đến các điều kiện tổng hợp để bảo đảm việc thực hiện.

 

Khi giao nhiệm vụ cho tôi vào làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần tiền phương ở khu vực cán xoong nam khu IV, sau khi nói rõ các nhiệm vụ, anh Thiện tâm sự: “Mình rất tức, vì thử nghiệm vận tải cơ giới chưa thành công, nên mới có việc bàn thụt lùi. Lần này, cậu vào chính quê cậu, tâm điểm của sự đánh phá ác liệt, hãy thực hiện cho được vận tải cơ giới có quy mô lớn để chứng minh kết luận của Quân ủy Trung ương là đúng đắn”.

Với 750 xe vận tải, 5 tiểu đoàn của 4 binh trạm, từ tháng 8 đến tháng 12/1966, Tổng cục Tiền phương đã lập chân hàng cho tuyến đường 559 ở các cửa khẩu, đạt 75% kế hoạch cả năm, trong bối cảnh không quân Mỹ đánh phá ngăn chặn, thả bom rải thảm cả ngày và đêm. Nguyên nhân thành công, chủ yếu là sức mạnh tổng hợp phải thực sự tập trung vào một mối chỉ huy, đưa công tác cầu đường lên khâu đột phá hàng đầu.

Đầu tháng 12-1966, anh Thiện vào Sở chỉ huy Tổng cục Tiền phương tại xã Hương Đô, Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Với thái độ rất vui vẻ, vồn vã, anh nói với tôi; “Hiệp đầu ta đã thắng, Quân ủy Trung ương sẽ điều anh vào làm Tư lệnh Đoàn 559 kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Tiền phương”.

 

Rút kinh nghiệm Tổng cục Tiền phương để vận dụng vào 559, tuyến Tây Trường Sơn, anh nói với tôi nhiều việc cần suy nghĩ để triển khai kế hoạch năm 1967 của tuyến 559, trong đó, anh nhấn mạnh: “Cậu ở Bộ Tổng tham mưu có lẽ đã hiểu, trên tuyến vận tải cơ giới trong chiến tranh phải có một mạng thông tin đa phương thức thì mới chỉ huy được thông suốt. Năm 1965, tôi đã nói với Bộ Tư lệnh 559 mắc đường dây tải ba, nhưng không hiểu sao anh em làm chậm. Khi cậu vào, phải xúc tiến mạnh. Về Hà Nội, tôi sẽ đề nghị với anh Văn Tiến Dũng, Bộ Tổng tham mưu tăng cường cán bộ, trang thiết bị thông tin, nếu thiếu tôi sẽ đề nghị với anh Lê Thanh Nghị, Phó Thủ tướng xin thêm dây, máy của các nước anh em”. Quá trình đi đến thành công của tuyến đường Hồ Chí Minh, có nhiều mặt tổng hợp. Nhưng phải nói mạng thông tin là yếu tố quyết định thắng lợi của chỉ huy. Một mạng thông tin đa phương thức, lấy tải ba là chính, trong chiến tranh chỉ có ở tuyến đường Hồ Chí Minh là hoàn chỉnh.

 

Quá trình về sau, cán bộ chỉ huy các cấp của tuyến vận tải chiến lược, ai cũng rất tự hào về mạng thông tin này. Nhưng ít ai hiểu tác giả có tầm nhìn và năng lực hành động, tác động vào việc xây dựng mạng thông tin, chính là anh Đinh Đức Thiện. Cần nhớ lại, lúc bấy giờ, nhiều người không tin tuyến đường dây thông tin hữu tuyến tải ba dài 1.350 km lại trụ được trong điều kiện không quân Mỹ đánh phá ác liệt. Theo dự tính thì tuyến đường Hồ Chí Minh trong những năm đầu, thế nào cũng có nhiều khó khăn. Từ năm 1965 đến năm 1967 được Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Trung ương Cục miền Nam chấp thuận, Chính phủ Campuchia cho phép, anh Đinh Đức Thiện đã bí mật sang Phnôm Pênh khảo sát nguồn lương thực, thực phẩm tại chỗ. Khi trở về, đã khẩn trương phối hợp với Hậu cần Miền để tổ chức mua lương thực ở Campuchia. Anh Thiện đã phái anh Đức Phương và một số cán bộ đóng vai nhà tư sản, tổ chức thua mua và vận chuyển lương thực cho chiến trường Tây Nguyên có hiệu quả (gọi là tuyến C4). Tuy thời gian thực hiện việc này chỉ duy trì được hơn hai năm, nhưng nhờ tầm nhìn và năng lực hành động trong công tác hậu cần khá uyển chuyển, đã sử dụng được cả nhân tố quốc tế, với chế độ chính trị khác nhau.

 

Cũng tương tự như vậy, đầu năm 1970, theo dự đoán của Bộ Chính trị, Mỹ ngụy có thể mở tấn công lớn sang Campuchia, mở rộng phạm vi an toàn cho ngụy miền Nam ra xa để phá căn cứ chỉ huy và hậu cần của Trung ương Cục miền Nam, làm áp lực cho Lon Non lật đổ quốc trưởng Xihanúc, để cắt đứt tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua đất Campuchia. Đối với với thời cuộc đó, theo chủ trương của Quân ủy Trung ương, anh Đinh Đức Thiện vào làm việc với Bộ Tư lệnh Trường Sơn, tạo mọi điều kiện lập Sư đoàn khu vực 470 để lo mọi mặt chi viện cho Tây Nguyên, Nam Bộ, Đông Bắc Campuchia. Thế là từ tuyến vận tải C4, nhanh chóng đảo ngược thành hành lang chi viện ở khu vực biên giới ba nước, một địa bàn chiến lược cực kỳ quan trọng không thể bỏ ngỏ. Việc làm này đã đón đầu và góp phần dập tắt âm mưu cắt đứt tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua đất Campuchia. Đó là kết quả của tầm nhìn và năng lực hành động sáng tạo của anh Thiện.

 

Cuối năm 1966, khi chân hàng đã thỏa mãn ở các cửa khẩu, đúng 30 Tết âm lịch năm 1967, anh Thiện vào làm việc với Bộ Tư lệnh 559 tại Sở chỉ huy Tổng cục Tiền phương, giao tăng gấp đôi chỉ tiêu vận tải cho các chiến trường. Nếu cần những điều kiện gì, thì Bộ Quốc phòng và Tổng cục thỏa mãn cho 559. Do nắm chắc được tình hình bên dưới, anh đã ra quyết định kịp thời để phát huy các nhân tố mới, không bỏ lãng phí. Đó chính là sự giúp đỡ cho cấp dưới phát triển một cách tự giác, không phải gò ép. Vì vậy, chúng tôi nhận nhiệm vụ đó rất nhẹ nhàng, thoải mái.

 

Đầu năm 1969, trong buổi làm việc với Bộ Tư lệnh 559, anh để nhiều thì giờ trao đổi trên bản đồ, để quy định lắp đặt tuyến đường ống dẫn xăng dầu. Nét bút chì đỏ của anh Thiện chấm điểm cuối cùng của đường ống này là Bù Đăng, thuộc tỉnh Sông Bé. Anh Thiện nói: “Tôi sẽ nhắc anh Lê Thanh Nghị sang Liên Xô, Trung Quốc xin bằng được ống, phụ kiện, máy bơm, dây thông tin. Nếu vẫn còn thiếu thì xin Nhà nước cho mua và tìm cách khắc phục trong nước. Đối với một số đồn bốt của địch còn nằm trên tuyến khi các chiến trường “nhổ” được đến đâu, ta đặt đường ống đến đấy. Vận tải hàng hóa, cơ động binh chủng kỹ thuật nhanh, lớn, cực lớn, thì tất nhiên việc chở xăng bằng phuy, bằng xe téc là lỗi thời, lại không an toàn. Đường ống dẫn xăng dầu là phương thức vận tải hiện đại, bán tự động, đó là mơ ước ta quyết làm bằng được”. Chính khách nước ngoài và nhiều người trong nước đều đánh dấu hỏi: Trong điều kiện không quân Mỹ đánh phá dữ dội như vậy, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tiếp tế xăng dầu như thế nào, mà lại sử dụng được đến các sư đoàn xe vận tải, cơ động bằng cơ giới từng quân đoàn, sư đoàn bộ binh, cơ động một khối lượng lớn binh chủng kĩ thuật vào đến chiến trường miền Nam xa hàng nghìn kilômét. Anh Trần Hoàn, nguyên Bộ trưởng Văn hóa - Thông tin nói: “Tôi đến xem bia lịch sử Bù Đăng, tỉnh Sông Bé ghi đây là điểm cuối cùng của tuyến đường ống dẫn xăng dầu đường Hồ Chí Minh, tôi mới hiểu rõ, đầy đủ những nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử”.

Tác giả, kiến trúc sư tuyến đường ống dẫn xăng dầu trên tuyến đường Hồ Chí Minh là anh Đinh Đức Thiện. Đó là tầm nhìn và năng lực hành động, dự đoán trước sáu, bảy năm, để đón đầu thời cơ.

 

Về đường sá, anh Thiện luôn luôn chủ trương xây dựng cầu đường trên tuyến phải thành một mạng lưới liên hoàn, đồng bộ cả Đông, Tây Trường Sơn, thỏa mãn và có dự trữ, tạo ra cơ sở hạ tầng thực sự đi trước. Tuyến Đông Trường Sơn phải khôi phục và mở mới thành một tuyến đường tiêu chuẩn quốc gia xuyên Bắc - Nam, cho trước mắt và cả cho phát triển kinh tế miền núi, quốc phòng, an ninh sau khi ta giải phóng miền Nam.

 

Trước khi chiến dịch Đường 9 - Nam Lào diễn ra, anh Thiện đã vào làm việc cùng Bộ Tư lệnh Trường Sơn đưa ra các dự đoán và giải pháp cụ thể; giao cho chúng tôi: Một mặt phải đánh thắng địch ở cánh Tây Trường Sơn, đặc biệt diệt cho được trực thăng, đồng thời phục vụ hậu cần thỏa mãn cho cánh Đông Trường Sơn. Nhưng vấn đề đặt lên hàng đầu là phải vận chuyển liên tục, không để vận tải chiến lược ngừng trệ một ngày nào.

 

Đoàn 559 cần gì, Bộ Quốc phòng và Tổng cục thỏa mãn đầy đủ. Nhờ vậy khi chiến dịch xảy ra, tuyến Tây Trường Sơn hoàn toàn chủ động, dưới sự chỉ huy thống nhất của Bộ, Đông và Tây Trường Sơn đã phối hợp nhịp nhàng, tiêu diệt hoàn toàn các binh đoàn của ngụy miền Nam, Lào, Thái Lan; đập tan viễn âm mưu của địch cắt đứt tuyến chi viện chiến lược đường Hồ Chí Minh, đẩy mạnh được vận chuyển bảo đảm hậu cần cho các chiến trường.

 

Về xây dựng, phát triển các binh chủng trên tuyến, anh Thiện ủng hộ quan điểm: Căn cứ theo yêu cầu, nhiệm vụ mà điểu chỉnh, phát triển quy mô tổ chức theo kịp diễn biến khách quan, không câu nệ. Vì nhiệm vụ đề ra tổ chức, chứ không phải tạo ra tổ chức để có chỗ ngồi. Khi Hiệp định Pari được kí kết (27/1/1973), điều kiện hòa bình đã có, Bộ Tư lệnh Trường Sơn đề nghị tổ chức các sư đoàn xe vận tải để chạy thẳng giao hàng nhiều, nhanh, trực tiếp cho các chiến trường, xóa bỏ các cung. Đây chính là quan điểm vận tải của anh nên anh rất ủng hộ. Cách làm này để thúc đẩy thời cơ và đủ sức để chủ động đón lệnh thần tốc của Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, phục vụ chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Nhờ vậy, đến giữa năm 1973, Bộ đã cho phép tuyến đường Hồ Chí Minh được sắp xếp lại theo hướng binh chủng hợp thành và 10.000 thanh niên xung phong, trong đó có 2 sư đoàn và 1 trung đoàn xe vận tải cơ động chở hàng, chở quân là lực lượng chủ lực, 4 sư đoàn công binh, 1 sư đoàn bộ binh, 1 sư đoàn và 6 trung đoàn cao xạ và các trung đoàn phục vụ chiến đấu và bảo đảm chiến đấu. Sau chiến dịch Buôn Ma Thuột, anh Thiện được Bộ Chính trị cử vào tham gia Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh. Nhờ nắm chắc khả năng, thế mạnh của tuyến đường Hồ Chí Minh nên anh đã phát huy được sức mạnh tối đa của tuyến cho thời cơ quyết định.

 

Về phong cách và tác phong của anh Đinh Đức Thiện: Cái lớn nhất là nói và làm đi đôi với nhau, chủ trương và giải pháp gắn liền với nhau. Đặc biệt là điều kiện để bảo đảm giải pháp rất đồng bộ, kịp thời, chủ động, cụ thể. Ví dụ tăng cường 1.000 xe vận tải, anh ghi rõ trong quyết định bao nhiêu lái xe đi cùng, bao nhiêu chiếc lốp dự bị, bộ đồ nghề… Khi bàn việc phát triển cầu đường, anh chủ động nói luôn phải tăng thêm bao nhiêu máy húc, xe ben, thuốc nổ… Khi quân Mỹ rải bom từ trường xuống tuyến, anh chủ động đưa các trung đội xe phóng từ vào, trong lúc Bộ Tư lệnh Trường Sơn chưa kịp xin… Có những việc cụ thể, chúng tôi rất cảm động như việc trang bị mũ sắt, áo giáp cho bộ đội vận tải. Mũ sắt thì chiến trường nào cũng được cấp, riêng áo giáp thì chỉ có tuyến đường Hồ Chí Minh mới có, do đặc điểm riêng của nó. Anh quan tâm cả giấc ngủ, lo từng viên tăng lực cho bộ đội lái xe. Anh Thiện là một nhân vật dám nói, dám làm việc lớn, dám chịu trách nhiệm, năng động, sáng tạo, thẳng thắn, rộng rãi, ghét xu nịnh, gần gũi, thực lòng thương yêu cán bộ, chiến sĩ, bạn bè. Phong cách và tác phong của anh có sức thuyết phục cấp dưới mạnh mẽ, góp phần tạo nên nhân cách đúng đắn cho nhiều cán bộ cộng sự.

 

Ngày 30/4/1975 giải phóng Sài Gòn, thì ngày 8/5/1975, anh Thiện triệu tập tôi đến bàn cách để đề nghị Chính phủ một phương án xây dựng kinh tế. Anh chỉ đạo tìm kiếm dầu khí đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, đặt nền móng đầu tiên để liên doanh với Liên Xô xây dựng ngành dầu khí Việt Nam. Sau khi giải phóng miền Nam, anh cũng lại đi vào những công việc có tầm cỡ quốc gia như sau chiến thắng Điện Biên Phủ.

 

Cuộc đời của anh Đinh Đức Thiện trong thập kỷ 60, nửa thập kỷ 70 đã gắn chặt với tuyến chi viện chiến lược đường Hồ Chí Minh, làm nên mốc son chói lọi trong trang sử hào hùng kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Hôm nay, tưởng niệm 10 năm ngày mất của anh, là một cộng sự trực tiếp đã từng giúp anh, trải qua bao thăng trầm, gian khổ, ác liệt và thắng lợi, tôi xin kính cẩn nghiêng mình trước anh hồn của anh. Chúc anh an nghỉ ngàn thu!”

Đồng Sĩ Nguyên – Nguyên Vũ (BT)

  • Adv01
Bạn có biết?
nghĩa tình đồng đội

TRUNG TÂM HỖ TRỢ NHÂN ĐẠO

ĐC: Số 40 Tổ 3 P. Giang Biên, Long Biên, HN

Điện thoại(84-4) 666 23248 

mail:dungnv@nghiatinhdongdoi.vn

Giám đốc:

Nhạc sỹ Trường Sơn Đào Hữu Thi

--------------------------

QUỸ NGHĨA TÌNH ĐỒNG ĐỘI 

Giám đốc: Nguyễn Văn Dũng

-------------------------

Số TK: 0020135553248 

Tại Sở Giao dịch 

Ngân hàng TMCP Quân đội

Thường trực: 098 555 3248

Danh sách ủng hộ quỹ
  • (25/07/2014)  Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn

    722 Điện Biên Phủ, Phường 22, Q. Bình Thạnh, TP. HCM

    Hỗ trợ Xuất bản Công trình Ký ức người lính 2014

    200.000.000 vnđ (Hai trăm triệu đồng chẵn)

  • (05/08/2014)  Đồng chí Đặng Thanh Hải

    Xóm Chùa, Đoan Bái, Hiệp Hòa, Bắc Giang

    Ủng hộ 3.000.000đ (ba triệu đồng)

  • (25/07/2014)  Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Dương

    Hỗ trợ 5.000.000đ (Năm triệu đồng)

  • (18/02/2012)  CCB Hoàng Văn Tuyên

    Tổ 1, Quang Trung, TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

    Điện thoại: 

    Đã ủng hộ Chương trình Xuân ấm tình Đồng đội

  • (25/01/2014)  CCB Trần Văn Hóa

    Thị trấn Quán Lào - huyện Yên Định - tỉnh Thanh Hóa

    Số điện thoại: 

    Đã ủng hộ 03 triệu đồng

    (về TK ngân hàng Maritimebank)

  • (04/01/2014)  CCB Nguyễn Thế Văn

    Thôn Nam Hải, xã Hải Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa

    Điện thoại: 0902191248

    Đã ủng hộ số tiền 05 triệu đồng 

    (về tài khoản Ngân hàng Quân đội)

  • (26/02/2012)  CCB Nguyễn Thanh Bình

    Phường Cộng Hòa, Thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh

    Điện thoại (đang cập nhật)

    Đã ủng hộ 05 triệu đồng

    (về tài khoản Chương trình "Xuân ấm tình đồng đội")

Doanh nhân
Ngày 15-5, tại Hà Nội, Hội truyền thống Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh ...
  • Liên kết website
    Mạng xã hội