Ban chỉ đạo
  • Tiến sỹ Lê Doãn Hợp – Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam, nguyên UVBCHTW Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông Tin Truyền Thông
  • Thượng tướng, Tiến sỹ - Viện sỹ Nguyễn Huy Hiệu – AH LLVT ND, nguyên UVBCHTW Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
  • Trung tướng Nguyễn Quốc Thước – Nguyên Ủy viên BCHTW Đảng, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, nguyên Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội CCB Việt Nam
  • Trung tướng Nguyễn Trung Thu – AHLLVTND, Phó Tổng Tham mưu trưởng QDNDVN, Nguyên Tư lệnh Quân khu 5
  • Đồng chí Đỗ Quý Doãn - Thứ trưởng Bộ Thông tin & Truyền thông
  • Trung tướng Triệu Xuân Hòa – AH LLVT ND, Phó Trưởng ban chỉ đạo Tây Nguyên, nguyên Tư lệnh Quân khu 7
  • Phó Đô đốc Nguyễn Văn Tình – AH LLVT ND, Nguyên UVBCHTW Đảng, nguyên Chính ủy Quân Chủng Hải Quân
  • Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương – Trưởng BLL CCB Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam tại Lào, nguyên Chính ủy kiêm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, Trưởng BLL của 15 BLL các nhà tù cách mạng Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ LĐ – TB – XH
Lão thành cách mạng Nghiên Bút Ngọc - Pho sử sống của thủ đô gió ngàn

Lão thành cách mạng Nghiên Bút Ngọc - Pho sử sống của thủ đô gió ngàn

Monday, 12/01/2015, 10:11:00 AM
Tiếp đón chúng tôi, vị lão thành cách mạng Nghiên Bút Ngọc tuổi ngoài chín mươi nhưng vẫn rất minh mẫn và khỏe mạnh. Câu chuyện của ông đưa chúng tôi trở lại những năm tháng cả dân tộc cùng một chí hướng: đánh đuổi quân xâm lược.

 

Ông Nghiên Bút Ngọc sinh năm 1921, bên ngọn núi Hồng – làng Minh Thanh, xã Thanh La, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Cha của ông làm việc cho hệ thống chính quyền, với một chức quan được gọi là Tổng Đoàn, nhưng cụ luôn có tư tưởng chống đối Pháp, đã nhiều lần ra mặt đối đầu để bảo vệ bà con dân bản. Anh chị em ông Bút Ngọc đều được học hành. Năm 17 tuổi, lần đầu tiên ông biết đến “Cộng sản”, trong một lần đọc trát của quan tri châu sức xuống Tổng, nội dung là: “Hiện có một số người khố rách áo ôm, tụ tập làm cộng sản, dụ dỗ dân chúng chống lại nhà nước bảo hộ Pháp…”.

 

Sau đó một thời gian, ông Ngọc quen với một cô gái tên Vân (tức đồng chí Hoàng Thị Bưởi), khi đó là con nuôi trong một gia đình người Dao. Qua những lần nói chuyện với Vân, Ngọc đã dần hiểu về cộng sản và được các đồng chí dẫn dắt đi làm Cách mạng.

Ông Ngọc nhớ lại: “Từ cô Vân, tôi được giới thiệu với anh Tân Hồng (tức đồng chí Chu Văn Tấn). Chúng tôi trò chuyện rất lâu về sự nghiệp cách mạng, rất nhiều chuyện nhân tình thế thái và tôi thấy rất tâm đắc. Ngay sau đó, tôi và anh Tân Hồng đã cắt máu ăn thề kết nghĩa anh em”.

 

Tháng 6/năm 1940, Ngọc tham gia trận chiến đầu tiên - khởi nghĩa Bắc Sơn, cùng các đồng chí Tân Hồng, Hoàng Thị Bưởi, Hạ Bá Cang (tức Hoàng Quốc Việt) và một số đồng chí ở Lạng Sơn. Tuy cuộc khởi nghĩa không thành công, do lực lượng ta quá mỏng, trong khi địch lại quá đông, nhưng ta đã rút được bài học vô cùng to lớn. Lực lượng ban đầu đó được lệnh rút về Võ Nhai, tạm thời giải thể về địa phương hoạt động, xây dựng cơ sở.

 

Ông Nghiên Bút Ngọc

 

Nghiên Bút Ngọc ở thị xã Vĩnh Yên (Liễn) họp bàn, xây dựng căn cứ cách mạng núi Hồng. Đồng chí Hoàng Quốc Việt trực tiếp giao cho Ngọc nhiệm vụ về giác ngộ bố và người thân trong gia đình Ngọc và xây dựng cơ sở ngay tại quê nhà. Từ trước, việc tham gia hoạt động cách mạng của Ngọc hoàn toàn là bí mật. Ngọc lo lắng, suy nghĩ rất nhiều. Sau 2 năm, Ngọc hoàn thành nhiệm vụ giác ngộ cho cả gia đình và một số thôn, bản, từ đó phân công giác ngộ dân, đoàn kết giúp đỡ nhau. Sau khi giác ngộ được số lượng đông đảo bà con, rất nhiều tổ chức được thành lập như: Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nhi đồng cứu vong... Phong trào giác ngộ cách mạng lan rộng và phát triển mạnh mẽ khắp cả những vùng lân cận.

 

Cuối năm 1944, phái đoàn thượng cấp của Cách mạng đến thăm cơ sở do Nghiên Bút Ngọc xây dựng, tổ chức cuộc họp bí mật, đưa ra quyết định giải cứu cho 12 đồng chí đang bị địch giam giữ, tra tấn ở trong nhà tù Cao Bá Vân. Ông Ngọc hồi tưởng lại: “Chúng ta không thể tổ chức đánh cướp nhà tù. Đầu tiên, chúng tôi giao cho một số đồng chí ở địa bàn nhà tù Cao Bá Vân tìm hiểu rõ tình hình. Một mặt báo cho các đồng chí lãnh đạo, mặt khác báo cho các đồng chí bên trong ngục biết rõ kế hoạch, rồi tạo ra cớ nhà tù bị dột. Hôm đầu, các đồng chí đi vào rừng chặt nứa rồi vác về. Vào ngày đã định, các đồng chí cũng đi như hôm trước. Khi đó, trong rừng ta đã bố trí một lực lượng chặt nứa thay thế, để khi địch kiểm tra còn nghe thấy tiếng dao gõ vào cây điểm báo, đồng thời gấp rút đưa các đồng chí đi trốn thoát. Sau khi giải cứu cho 12 đồng chí, phân công cho mỗi cơ sở chăm nuôi, bảo vệ một đồng chí. Ông anh trai tôi được giao đón và nuôi giấu đồng chí Tạ Xuân Thu, người Thái Bình... Một số đồng chí được giải cứu ra ngoài trong tình trạng sức khỏe rất kém, bệnh tật nhiều. Anh Thu cũng ốm rất nặng. Tất cả đều được bố tôi điều trị, sau một thời gian sức khỏe mới hồi phục”.

Các đồng chí thoát khỏi nhà lao của địch, ra hoạt động cùng với cơ sở, đưa phong trào cách mạng ở địa phương mạnh lên trông thấy. Khi các đồng chí thượng cấp: Hoàng Quốc Việt, Song Hào, Tân Hồng... tổ chức đến thăm cơ sở, đã quyết định thành lập chi bộ Đảng đầu tiên ở Thanh La. Từ đó, tổ chức chính thức đưa phong trào đấu tranh cách mạng ra hoạt động công khai. 

 

Giữa thời điểm đó, Nhật đảo chính Pháp, mặc dù chưa nhận được chỉ thị trực tiếp của Trung ương, nhưng các đồng chí cấp trên đang hoạt động ở địa phương đã họp bàn, cần chớp thời cơ hành động, tổ chức quần chúng đấu tranh, từng bước giành chính quyền. Thanh La (nay là xã Minh Thanh, Sơn Dương) được chọn là trọng điểm chỉ đạo. Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng được tiến hành vào ngày 10-3-1945, đã thu được kết quả thắng lợi. Liền đó, ngày 11-3 dự tính sẽ thành lập châu Tự Do, nhưng đêm 12-3, Nhật kéo quân chiếm lại đồn. Ngọc tham gia họp bàn khẩn cấp với đồng chí Song Hào và Tạ Xuân Thu về việc hoãn thành lập chính quyền lại, để chớp thời cơ đánh ngay, vì địch vừa vào, chưa ổn định tổ chức. Ngày 13-3, Ngọc cùng các đồng chí, chiếm lại đồn Đăng Châu, không khó khăn gì. Sau đó, ngày 16-3 chính quyền cách mạng cấp xã đầu tiên trong cả nước được thành lập. Kế đó, thực hiện chỉ thị của Đảng Cộng sản Đông Dương, thành lập Tổng bộ Việt Minh lâm thời phân khu uỷ Nguyễn Huệ, gồm 5 đồng chí: Song Hào, Lê Hiến Mai, Lê Trung Đình, Tạ Xuân Thu và Nghiên Bút Ngọc.

 

Sau khởi nghĩa Thanh La, trong vòng hai tháng (từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1945), nhân dân các xã ở Sơn Dương và các huyện, thị xã trong tỉnh đã đứng lên tự giải phóng, cướp chính quyền về tay nhân dân. Ngày 17-8, sau khi làm lễ tế cờ, đồng chí Song Hào đã đọc bản Quân lệnh số 1, ra lệnh tiến về giải phóng thị xã Tuyên Quang, giao cho Nghiên Bút Ngọc làm tổ trưởng tổ lái xe hơi cứu quốc, gồm 7 người. Ông Ngọc cho biết: “Chúng tôi chỉ với 1 khẩu súng duy nhất, đã tiến đánh kho bạc, thu súng của địch, trang bị cho các đồng chí trong tổ. Sau 4 ngày đêm chiến đấu, ngày 21-8, toàn bộ quân Nhật rút khỏi thị xã Tuyên Quang, thị xã được giải phóng. Ngay đêm 21-8, thị xã Tuyên Quang tổ chức mít tinh, thành lập chính quyền cách mạng, ra mắt Ủy ban lâm thời. Mỗi người dân đem theo một bó đuốc, cả thị xã rực sáng trong ánh đuốc, trong niềm hân hoan của chiến sỹ và nhân dân”.

 

Nói về ký ức trong những năm cầm súng của mình, kể ra thì rất dài, còn nhiều gian nan lắm – Ông Ngọc cho biết: “Từ Tuyên Quang, theo sự chỉ đạo của Đảng, tôi tham gia chiến đấu giải phóng Hà Giang, Hoàng Su Phì, Điện Biên Phủ, Tây Nam Phú Thọ... Trong thời gian đó, tôi không ít lần tưởng đã mất mạng. Sau khi bị thương, với chứng tật hạng 4/4, tôi về công tác tại Trường Quân chính châu Tự Do, rồi chuyển sang làm cán bộ tác chiến Quân khu Việt Bắc. Năm 1953, tôi về Tuyên Quang công tác tại Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh. Đến năm 1954, tôi được lệnh tham gia vào đoàn cán bộ đặc biệt, bí mật chuẩn bị cho đoàn quân 308 vào tiếp quản thủ đô Hà Nội, sau đó còn làm tham mưu trong chiến tranh biên giới. Đến năm 1980, tôi nghỉ hưu với quân hàm Thiếu tá”.

 

Kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời Nghiên Bút Ngọc là những năm tháng được sống bên cạnh Hồ Chủ Tịch. Ông Ngọc bồi hồi nhớ lại: “Sống và làm việc với Bác, tôi học được rất nhiều điều từ Người. Bác không lúc nào là không làm việc, kể cả khi đang nằm ngủ. Cứ nghĩ ra một vấn đề gì là Bác bật dậy, đốt đèn hoa kỳ, ngồi viết. Bác làm việc như thế, tôi rất lo cho sức khỏe của người. Tôi nhắc Bác luôn “Bác ngủ đi thôi”. Bác nói: “Chú cứ ngủ đi! Bác thức thì mặc Bác”. Bác rất sợ dư luận, nhân dân với cách mạng có vấn đề gì, phải giải quyết ngay. Hàng tuần, tôi cùng Bác vào bản động viên, hỏi thăm tình hình của bà con, đồng thời vận động họ giúp đỡ cách mạng và hỏi dân xem đơn vị đóng quân trên địa bàn có ý kiến, có thắc mắc gì không, nếu có dư luận là hỏng hết. Bác nói: “Tất cả mọi sự việc cũng thế thôi, con người đều quý nhất, bất kì già, trẻ, trai, gái là người của dân mình, nên tìm cách giác ngộ người ta, cùng với mình vì dân, vì nước ”. Bác luôn nói với chúng tôi rằng: “Tất cả là ở lòng dân. Mình làm cho dân hiểu, mình thống nhất ý chí với dân, được dân ủng hộ thì không có gì là không làm được”.

 

Có lần, tôi và đồng chí Kháng - Hoàng Hữu Kháng (tức Nguyễn Văn Cao, còn gọi là Lý, ở Thái Bình, là một trong 8 chiến sĩ được Bác Hồ đặt tên), đưa Bác đi qua Ngòi Lê (tức suối Lê). Hôm trước, mưa cả đêm, lũ kéo về, nước ngập đục ngầu, nhưng chúng tôi không biết trước, lúc đó không có cách nào đành phải lội qua. Bác nói: “Bây giờ không có mảng, chú Ngọc lội sang xem thế nào”. Khi tôi lội qua, thấy nước cũng chỉ ngập đến ngang đùi. Bác bảo rằng như thế đi qua được. Tôi và đồng chí Kháng đã cố thuyết phục để cõng Bác qua suối, nhưng Người nhất quyết không đồng ý, rồi tự mình lội qua. Tôi đi trước, sau đó là Bác và đồng chí Kháng đi cuối. Bác vừa đi vừa chống gậy, vì chống vào một hòn đá trơn nên Bác trượt ngã, nhưng may thay, đồng chí Kháng đỡ kịp, nên Người chỉ bị ướt quần áo. Đồng chí Kháng tỏ ý trách. Bác nói: “Bác sai, Bác khuyết điểm. Bác xin lỗi và nhận khuyết điểm. Nhưng không sao, lên bờ kia ta sẽ giải quyết”. Sau khi lên bờ, Bác vào một bụi cây vắt quần áo, rồi phơi lên cây gậy, vác lên vai và tiếp tục đi. Người bảo coi như vừa đi, vừa phơi quần áo. Chính sự việc đó mà sau này có đoạn phim ghi lại hình ảnh Bác Hồ vừa đi, vừa treo quần áo trên gậy”.

Những ký ức về Bác Hồ của tôi còn rất nhiều. Đối với tôi, các con cháu và mọi người dân, Bác mãi mãi là một tấm gương sáng nhưng vô cùng thân thiết và bình dị”.

 

Phong Vũ

  • Adv01
Bạn có biết?
nghĩa tình đồng đội

TRUNG TÂM HỖ TRỢ NHÂN ĐẠO

ĐC: Số 40 Tổ 3 P. Giang Biên, Long Biên, HN

Điện thoại(84-4) 666 23248 

mail:dungnv@nghiatinhdongdoi.vn

Giám đốc:

Nhạc sỹ Trường Sơn Đào Hữu Thi

--------------------------

QUỸ NGHĨA TÌNH ĐỒNG ĐỘI 

Giám đốc: Nguyễn Văn Dũng

-------------------------

Số TK: 0020135553248 

Tại Sở Giao dịch 

Ngân hàng TMCP Quân đội

Thường trực: 098 555 3248

Danh sách ủng hộ quỹ
  • (25/07/2014)  Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn

    722 Điện Biên Phủ, Phường 22, Q. Bình Thạnh, TP. HCM

    Hỗ trợ Xuất bản Công trình Ký ức người lính 2014

    200.000.000 vnđ (Hai trăm triệu đồng chẵn)

  • (05/08/2014)  Đồng chí Đặng Thanh Hải

    Xóm Chùa, Đoan Bái, Hiệp Hòa, Bắc Giang

    Ủng hộ 3.000.000đ (ba triệu đồng)

  • (25/07/2014)  Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Dương

    Hỗ trợ 5.000.000đ (Năm triệu đồng)

  • (18/02/2012)  CCB Hoàng Văn Tuyên

    Tổ 1, Quang Trung, TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

    Điện thoại: 

    Đã ủng hộ Chương trình Xuân ấm tình Đồng đội

  • (25/01/2014)  CCB Trần Văn Hóa

    Thị trấn Quán Lào - huyện Yên Định - tỉnh Thanh Hóa

    Số điện thoại: 

    Đã ủng hộ 03 triệu đồng

    (về TK ngân hàng Maritimebank)

  • (04/01/2014)  CCB Nguyễn Thế Văn

    Thôn Nam Hải, xã Hải Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa

    Điện thoại: 0902191248

    Đã ủng hộ số tiền 05 triệu đồng 

    (về tài khoản Ngân hàng Quân đội)

  • (26/02/2012)  CCB Nguyễn Thanh Bình

    Phường Cộng Hòa, Thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh

    Điện thoại (đang cập nhật)

    Đã ủng hộ 05 triệu đồng

    (về tài khoản Chương trình "Xuân ấm tình đồng đội")

Doanh nhân
Ngày 15-5, tại Hà Nội, Hội truyền thống Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh ...
  • Liên kết website
    Mạng xã hội