Ban chỉ đạo
  • Tiến sỹ Lê Doãn Hợp – Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam, nguyên UVBCHTW Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông Tin Truyền Thông
  • Thượng tướng, Tiến sỹ - Viện sỹ Nguyễn Huy Hiệu – AH LLVT ND, nguyên UVBCHTW Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
  • Trung tướng Nguyễn Quốc Thước – Nguyên Ủy viên BCHTW Đảng, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, nguyên Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội CCB Việt Nam
  • Trung tướng Nguyễn Trung Thu – AHLLVTND, Phó Tổng Tham mưu trưởng QDNDVN, Nguyên Tư lệnh Quân khu 5
  • Đồng chí Đỗ Quý Doãn - Thứ trưởng Bộ Thông tin & Truyền thông
  • Trung tướng Triệu Xuân Hòa – AH LLVT ND, Phó Trưởng ban chỉ đạo Tây Nguyên, nguyên Tư lệnh Quân khu 7
  • Phó Đô đốc Nguyễn Văn Tình – AH LLVT ND, Nguyên UVBCHTW Đảng, nguyên Chính ủy Quân Chủng Hải Quân
  • Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương – Trưởng BLL CCB Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam tại Lào, nguyên Chính ủy kiêm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, Trưởng BLL của 15 BLL các nhà tù cách mạng Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ LĐ – TB – XH
Nguyễn Thế Kinh – Người cựu thanh niên xung kích trên mọi mặt trận.

Nguyễn Thế Kinh – Người cựu thanh niên xung kích trên mọi mặt trận.

Friday, 26/09/2014, 15:26:00 PM
Trong những bản hùng ca bi tráng về thời chiến tranh sẽ là một thiếu sót vô cùng lớn nếu như không nhắc đến lực lượng tham gia thanh niên xung phong. Những thanh niên căng tràn nhiệt huyết ấy đã xông xáo trên những tuyến lửa gian nguy nhất của Tổ quốc. Rồi khi cuộc chiến kết thúc, họ lại hăng hái tham gia vào sự nghiệp xây dựng đất nước, làm giàu cho gia đình, cho quê hương. Cựu thanh niên xung phong Nguyễn Thế Kinh đã đóng góp công sức vào hai chặng đường lịch sử dân tộc.

 Ông Nguyễn Thế Kinh sinh năm 1947 tại miền quê chiêm trũng xã Chân Lý,  huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Cũng như mọi thanh niên mang lý tưởng góp phần đánh đuổi quân xâm lược, giải phóng quê hương, đất nước, ngày 15/7/1965, Nguyễn Thế Kinh tình nguyện lên đường gia nhập thanh niên xung phong tại Đại đội 356-N35 Trần Văn Chuông của tỉnh Hà Nam. Do hoàn cảnh, tình hình chính trị lúc bấy giờ cần kíp một lực lượng lớn thanh niên trẻ, sẵn sàng làm mọi nhiệm vụ gian khổ, nguy hiểm nhất nên nhiều tỉnh ở phía Bắc đã thành lập đội thanh niên xung phong. Ông Kinh gia nhập đội quân ấy là lớp thanh niên xung phong đợt 1 của tỉnh Hà Nam.

 

Trên tuyến đầu nguy hiểm, gian lao

 

  Đại đội 356-N35 được học tập, huấn luyện như lực lượng bộ đội chuẩn bị đi giáp mặt quân thù. Sau 3 tháng, đơn vị của ông được điều vào khu IV đóng quân tại xã Hưng Tiến, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An với nhiệm vụ xây dựng và đắp ga Yên Xuân, khôi phục tuyến đường Goòng từ Yên Xuân đến ga Tân Ấp (tỉnh Quảng Bình), vận chuyển lương thực và vũ khí cho chiến trường miền Nam.  

 

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ đắp ga Yên Xuân, tháng 10/1965, Đại đội 356-N35 được điều động vào san lấp hố bom, khôi phục nâng cao đường 15A đoạn từ Lạc Thiện đến xã Phú Lộc – Can Lộc (cách ngã ba Đồng Lộc 4km). Đoạn đường đó là một trong những trọng điểm huyết mạch giao thông nên máy bay Mỹ đánh phá suốt ngày đêm. Tháng 12/1965, Đại đội 356-N35 được lệnh lệnh chuyển quân vào đèo 7 của tuyến đường 21, đoạn tiến giáp Hà Tĩnh và Quảng Bình để mở đường mới. Đến tháng 3/1966, đơn vị lại được lệnh chuyển quân ra mở đường đoạn đầu của tuyến đường 21 từ nông trường Thạch Ngọc vào đèo 3 (đèo Thình Thình).

 

Tháng 7/1967 Đảng và Chính phủ quyết định mở đường mới, đường 20-7 từ nông trường cao su Quyết Thắng, Quảng Bình nối với đường 9 để chuẩn bị cho nhiệm vụ chính trị, chi viện cho miền Nam nên đã có quyết định thành lập Cục tiền phương do đồng chí Lê Đức Ân làm cục trưởng.

Thời kỳ ấy, mặt trận đường 9 Nam Lào rất khốc liệt, ông Nguyễn Thế Kinh lại tình nguyện vào Cục Tiền phương, bộ phận tiền trạm để chuẩn bị cất giấu lương thực, phương tiện, công cụ, máy móc... chuẩn bị cho việc mở đường mới, đường 20/7 (nay là đường 10) từ Nông trường cao su Quyết Thắng – Quảng Bình nối với đường 9. Thời điểm ấy, ông Nguyễn Thế Kinh kể: “Chúng tôi là thanh niên xung phong, luôn xác định nhiệm vụ tới những nơi nguy hiểm nhất, gian khổ nhất, ý thức là người lính phải luôn xông lên trước trận tuyến. Mà nói ra ngày đó thanh niên người nào cũng vậy, vô cùng hăng hái, nhiệt huyết. Vậy nên bất kể một tình huống, một nhiệm vụ nào tôi cũng xung phong đi trước. Tôi được biên chế vào đơn vị X3. Tôi là một trong bốn nhân viên hoa tiêu và áp tải hàng cho các đoàn xe từ trạm Trung chuyển vào KmO của tuyến đường 20/7 vào cấp phát cho các đơn vị mở đường từ trạm X3 vào X4 với cự ly 80 km. Mỗi đoàn xe chúng tôi phụ trách có khoảng 30 đến 40 xe. Trên đường vận chuyển liên tục vượt qua qua các trọng điểm bị máy bay Mỹ đánh phá suốt ngày đêm như ngã ba Việt Trung, ngầm 4, phà Long Đài, ngã ba dân chủ của tuyến 15A. Chúng tôi phải đặc biệt nhớ, chú ý những điểm có cờ báo có bom nổ chậm, và nghe ngóng pháo sáng của địch; rồi cùng các chiến sĩ lái xe xử lý những tình huống liên tục xảy ra trên đường như đường lầy lội do mưa, do bom mìn, xe hỏng, tìm điểm an toàn trong rừng, hoặc chặt cây để ngụy trang, ẩn nấp khi trời sáng...

 

Nhiều đoàn xe từ Bắc vào bị bắn phá nhiều lần trên đường khi tới điểm tập kết chỉ còn 4,5 xe; cũng có nhiều đoàn may mắn đến nơi an toàn cả. Đơn vị X3 chúng tôi là trạm trung chuyển: những hàng hóa cần dùng ngay chúng tôi điều về các đơn vị, những hàng chưa cần dùng đến thì cất dấu vào kho. Những kho đó được chúng tôi dựng theo kiểu dã chiến, tất cả nguyên vật liệu đều bằng lá, cây rừng; tuy không thể nói là bền vững như bê tông cốt thép nhưng chắc chắn bảo quản được các nhu yếu phẩm, những chất gây cháy nổ như xăng dầu thì được chon xuống đất. Nhiệm vụ áp tải hàng cho các đoàn xe chủ yếu đi về đêm, ban ngày chúng tôi vẫn thay nhau trực chiến. Lúc đó tôi là trung đội phó trung đội trực chiến. Trung đội được trang bị hai khẩu đội súng máy phòng không 12 ly 7 của Việt Nam.

 

Lúc đầu làm nhiệm vụ hoa tiêu, tôi thấy rất lo lắng. Số phận mỗi chuyến hàng cũng như sinh mạng những con người vậy, vô cùng quý giá. Bọn giặc thì luôn rình rập trên đầu bất kể ngày đêm, chỉ cần một sơ xuất nhỏ thôi cũng có thể dẫn đến thiệt hại khôn lường về người và của. Do đó góp phần đảm nhiệm bảo đảm an toàn cho sinh mạng ấy bỗng nhiên là một trách nhiệm vô cùng thiêng liêng, cao cả và có thể nói là nặng nề nữa. Tôi và các đồng đội luôn tự nhủ: mỗi xe hàng an toàn nghĩa là mạng mình cũng được an toàn”.

 Tháng 7/1968, trong một lần làm nhiệm vụ hoa tiêu, ông Nguyễn Thế Kinh đã trúng phải bom bi và bom sát thương. Lần đó đoàn xe ông áp tải cũng bị thiệt hại mất mấy xe hàng. Ông được điều trị vết thương tại viện 41 của quân đội. Sau 2 tháng, được xếp vào diện được ưu tiên ra Bắc học Đại học nhưng ông Kinh đã xin ở lại tiếp tục làm nhiệm vụ hoa tiêu, áp tải hàng cho đến cuối năm 1969 đầu năm 1970, khi đường 20-7 đã cơ bản thông xe. Hai trạm X3 và X4 sát nhập để làm công tác chỉ tồn. Sau đó ông được ra Bắc an dưỡng tại xã Diễn Đoài, Diễn Châu, Nghệ An để chờ nhiệm vụ mới.

Sau thời gian an dưỡng, ông Kinh được điều về công tác tại xí nghiệp Đ69, Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Đến tháng 4/1971 ông được cử đi học lớp khảo sát thiết kế, sau đó về nhận công tác tại Đội khảo sát thiết kế 872 thuộc Cục công trình 1 (nay là Công ty tư vấn thiết kế GT4). Năm 1990 do sức khoẻ yếu nên ông được nghỉ chế độ hưu trí tại xóm Yên Xuân, xã Hưng Đông, Tp. Vinh Nghệ An.

 

Làm kinh tế: Họ làm được chẳng lẽ mình không?

 

Trở về cuộc sống đời thường tại quê hương thứ hai – Nghệ An, khi đó ông chẳng có nghề nghiệp, kinh tế cũng rất khó khăn. Ông cũng đi làm thuê làm mướn nhưng nhu cầu việc làm không nhiều, ông nghĩ nếu cứ trông vào công việc như vậy thì cuộc sống cũng bấp bênh. Ông xem xét, nghiên cứu tình hình cuộc sống, nhu cầu thị trường tại địa phương và các tỉnh lân cận.

Trong một lần tới ga Vinh, ông Kinh nhận thấy hoạt động nhộn nhịp nhất là việc chuyển hàng hóa, chủ yếu là nhu yếu phẩm từ phía Nam ra. Một trong những mặt hàng “nóng” nhất là Mỳ tôm. Rất nhiều người xếp hàng, chen lấn để mua thứ thực phẩm được coi như một món ăn xa xỉ phẩm tại địa phương.

 

Ông Kinh cho biết: “Lúc đó tôi mua một gói mỳ về nghiên cứu rất kỹ. Tôi thấy mỳ tôm cũng chỉ là một loại thực phẩm khô như bún miến, chỉ là khác tí gia vị vào nguyên liệu sản xuất thôi chứ có gì. Chẳng lẽ họ làm được mỳ mà mình lại không làm được?

 

Từ trăn trở đó tôi bàn bạc với vợ (vợ tôi người Hà Tĩnh-Pv) rồi vay mượn được hai chỉ vàng. Tôi bắt tàu vào Nam theo địa chỉ ghi trên gói mỳ đã mua ở Vinh rồi xin làm đại lý cho hãng mỳ đó. Vậy là từ miền Nam, tôi trở về Vinh với một toa hàng đầy toàn mỳ tôm. Hãng mỳ đó sau 5 tháng tôi lấy hàng phải trả tiền tươi, đến tháng thứ 6 mới tin tưởng cho tôi thanh toán theo hình thức gối đầu.

 

Tôi từng bước học hỏi bí quyết, quy trình, công nghệ sản xuất mỳ; đồng thời cũng tự nghiên cứu, pha chế công thức của gói bột canh. Mỗi việc tôi đều ghi chép rất cụ thể, tỉ mỉ từng công đoạn. Ông Kinh kể: “May mắn đến với tôi trong một lần được đi theo đoàn thanh tra kiểm tra một nhà máy sản xuất mỳ. Tôi đã tranh thủ hỏi và nắm được toàn bộ công nghệ sản xuất. Sau đó tôi quyết định sản xuất mỳ tôm, bột canh ngay tại Nghệ An”.

 

Xí nghiệp kinh doanh chế biến thực phẩm Hương Kinh, chuyên sản xuất và kinh doanh bột canh và mì ăn liền của ông Nguyễn Thế Kinh được ra đời như vậy. Gọi là xí nghiệp nhưng toàn bộ nhà xưởng đều nằm trong nhà riêng của ông Kinh cả. Sản phẩm của xí nghiệp sản xuất đến đâu tiêu thụ hết ngay đến đấy. Trong giai đoạn 1992 – 1998, bột canh Thu Hương và mỳ ăn liền Gô Mếch đã có mặt tại Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và 18 tỉnh phía Bắc. Doanh thu mỗi năm khoảng 4 tỷ đồng.

 

Đến cuối năm 1999, ông Kinh mở rộng thị trường sang nước bạn Lào, là một trong 100 doanh nghiệp của Việt Nam tham gia hội chợ tại Viêng Chăn - Lào. Lần đó, ông Kinh kể: “Tôi mang sang hội chợ 4 xe mỳ, trong mấy ngày chỉ bán hết có một xe. Nhìn ba xe mỳ, nghĩ đến bước phải chở về tôi rất nản. Nhưng đúng lúc đó tôi gặp một doanh nhân người Việt, qua trao đổi nghe tôi giới thiệu, họ đã đồng ý mua cả ba xe mỳ còn lại”.

 

Từ đó ông đã dễ dàng tìm được thị trường mới nước bạn, bởi ông thấy người Lào chủ yếu là dùng mỳ tôm của Thái Lan; thị trường lúc đó bán với giá 1.200đ/gói tiền Việt, trong khi đó tính ra giá mỳ của Việt Nam đưa qua chỉ cần bán với giá 400đ/gói là đã có lãi rồi. Đúng thời điểm đó, nhà nước ta đang có nhiều chính sách khuyến khích cho các loại hàng bán xuất khẩu, cụ thể với mỳ tôm là miễn thuế. Ông Kinh đã tổ chức xuất hàng sang Lào, và nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường tại đó. Nhờ vậy doanh thu mỗi năm của xí nghiệp Hương Kinh đạt 10 tỷ đồng.

 

Vẫn trong thời điểm “ăn nên làm ra”, tháng 10/2000 ông Kinh quyết định chuyển đổi ngành nghề kinh doanh sản xuất phân bón các loại lấy tên là Công ty cổ phần thương mại Thành Trung trên dây chuyền công nghệ thô sơ, nhà xưởng phải thuê của đơn vị khác. Ông Kinh cho biết: “Tôi nhận thấy thị trường ngày càng có nhiều nhãn hiệu mỳ tôm ra đời, miếng bánh đã bị chia nhỏ dần. Nếu tôi cứ tiếp tục sản xuất kinh doanh mỳ tuy không lãi nhiều như trước nhưng cũng vẫn được. Trong khi đó, thị trường phân bón lại chủ yếu là hàng ngoại nhập từ Nga, Trung Quốc... phải chịu thuế nhập khẩu nên giá thành rất cao. Vậy nên nghĩ đến là làm, tôi chuyển giao hết toàn bộ công nghệ, bí quyết sản xuất mỳ và bột canh cho một doanh nghiệp ở Lào, dốc toàn lực đầu tư sang lĩnh vực phân bón.

 

Cũng phải học hỏi, tích lũy kinh nghiệm về phân bón từ đầu, đến năm 2005, ông lập dự án đầu tư xây dựng và lắp đặt dây chuyền phân bón bán tự động công suất 20.000 tấn/năm, được UBND thành phố Vinh cấp phép đầu tư và được cấp 4.000m2 tại Lô 7, Khu công nghiệp Nghi Phú, TP. Vinh. Sau một năm xây dựng cơ sở hạ tầng, lắp đặt thiết bị máy móc, nhà máy sản xuất phân bón Bắc miền Trung đi vào hoạt động. Những sản phẩm đầu tiên đã phục vụ kịp thời cho nông dân trên địa bàn hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và một số tỉnh lân cận thuộc khu vực bắc miền Trung. Sản phẩm công ty ra thị trường được khách hàng đánh giá là đảm bảo chất lượng và có sức lan tỏa trên diện rộng.

 

Cuối năm 2008, ông Nguyễn Thế Kinh quyết định thành lập thêm Công ty cổ phần vật tư nông nghiệp Việt Tiệp tại xã Thọ Sơn, huyên Bù Đăng, tỉnh Bình Phước. Hai năm sau, sản phẩm phân bón do công ty sản xuất đã có mặt tại các huyện thuộc tỉnh Bình Phước và các tỉnh cao nguyên dọc quốc lộ 14. Sản phẩm phân bón NPK của Công ty đã được Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng chứng nhận phù hợp với các yêu cầu tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008. Bản thân ông Nguyễn Thế Kinh và vợ Nguyễn Thị ương được nhận Cúp vàng Doanh nhân Việt Nam năm 2010, Doanh nhân Việt Nam làm theo lời Bác năm 2011 và rất nhiều giải thưởng khác.

 

Tính đến nay, dưới sự điều hành trực tiếp của ông Kinh, năm 2011 công ty Thành Trung đạt doanh thu 110 tỷ đồng; đã tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động với thu nhập ổn định hiện nay là 4,5 triệu đồng/tháng. Công ty chủ trương duy trì chính sách cho nông dân vay phân bón trả trậm sau thu hoạch, không phải trả lãi. Hàng năm tổ chức hội nghị, hội thảo, hướng dẫn trực tiếp bà con nông dân cách thức sử dụng phân bón hợp lý nhất nhằm mang lại năng suất cây trồng cao nhất. Phương trâm của ông Kinh cũng là của công ty là  “Thu nhập do nguồn cây trồng của bà con nông dân ngày càng tăng cao, như vậy họ sẽ cần và ngày càng cần nhiều hơn phân bón của ông”.

 

Bên cạnh đó công ty cũng hỗ trợ kinh phí gây quỹ cho hội nông dân các cấp của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh từ 500 – 700 triệu đồng; hỗ trợ từ thiện cho các cháu học sinh nghèo các huyện Hưng Nguyên, Hương Sơn, Kỳ Anh, Quỳnh Lưu, Yên Thành... hàng trăm triệu đồng mỗi năm; thăm hỏi tặng quà cho các cựu thanh niên xung phong tại địa phương hàng chục triệu đồng.

 

Ông Nguyễn Thế Kinh rất tự hào bởi mình là cựu thanh niên xung phong, ông bộc bạch: “Trong tôi luôn có bản chất người lính cụ Hồ. Chính nhờ được rèn luyện trong môi trường chiến tranh, tôi có đủ bản lĩnh, cái nhìn thực tế bắt kịp nhịp sống hôm nay. Tôi hiểu được điều mình cần và người khác cần gì ở mình. Lựa chọn của tôi chính là phục vụ những người nông dân Việt Nam”.

 

Vũ Thu Vân

  • Adv01
Bạn có biết?
nghĩa tình đồng đội

TRUNG TÂM HỖ TRỢ NHÂN ĐẠO

ĐC: Số 40 Tổ 3 P. Giang Biên, Long Biên, HN

Điện thoại(84-4) 666 23248 

mail:dungnv@nghiatinhdongdoi.vn

Giám đốc:

Nhạc sỹ Trường Sơn Đào Hữu Thi

--------------------------

QUỸ NGHĨA TÌNH ĐỒNG ĐỘI 

Giám đốc: Nguyễn Văn Dũng

-------------------------

Số TK: 0020135553248 

Tại Sở Giao dịch 

Ngân hàng TMCP Quân đội

Thường trực: 098 555 3248

Danh sách ủng hộ quỹ
  • (25/07/2014)  Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn

    722 Điện Biên Phủ, Phường 22, Q. Bình Thạnh, TP. HCM

    Hỗ trợ Xuất bản Công trình Ký ức người lính 2014

    200.000.000 vnđ (Hai trăm triệu đồng chẵn)

  • (05/08/2014)  Đồng chí Đặng Thanh Hải

    Xóm Chùa, Đoan Bái, Hiệp Hòa, Bắc Giang

    Ủng hộ 3.000.000đ (ba triệu đồng)

  • (25/07/2014)  Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Dương

    Hỗ trợ 5.000.000đ (Năm triệu đồng)

  • (18/02/2012)  CCB Hoàng Văn Tuyên

    Tổ 1, Quang Trung, TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

    Điện thoại: 

    Đã ủng hộ Chương trình Xuân ấm tình Đồng đội

  • (25/01/2014)  CCB Trần Văn Hóa

    Thị trấn Quán Lào - huyện Yên Định - tỉnh Thanh Hóa

    Số điện thoại: 

    Đã ủng hộ 03 triệu đồng

    (về TK ngân hàng Maritimebank)

  • (04/01/2014)  CCB Nguyễn Thế Văn

    Thôn Nam Hải, xã Hải Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa

    Điện thoại: 0902191248

    Đã ủng hộ số tiền 05 triệu đồng 

    (về tài khoản Ngân hàng Quân đội)

  • (26/02/2012)  CCB Nguyễn Thanh Bình

    Phường Cộng Hòa, Thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh

    Điện thoại (đang cập nhật)

    Đã ủng hộ 05 triệu đồng

    (về tài khoản Chương trình "Xuân ấm tình đồng đội")

Doanh nhân
Ngày 15-5, tại Hà Nội, Hội truyền thống Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh ...
  • Liên kết website
    Mạng xã hội