Ban chỉ đạo
  • Tiến sỹ Lê Doãn Hợp – Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam, nguyên UVBCHTW Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông Tin Truyền Thông
  • Thượng tướng, Tiến sỹ - Viện sỹ Nguyễn Huy Hiệu – AH LLVT ND, nguyên UVBCHTW Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
  • Trung tướng Nguyễn Quốc Thước – Nguyên Ủy viên BCHTW Đảng, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, nguyên Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội CCB Việt Nam
  • Trung tướng Nguyễn Trung Thu – AHLLVTND, Phó Tổng Tham mưu trưởng QDNDVN, Nguyên Tư lệnh Quân khu 5
  • Đồng chí Đỗ Quý Doãn - Thứ trưởng Bộ Thông tin & Truyền thông
  • Trung tướng Triệu Xuân Hòa – AH LLVT ND, Phó Trưởng ban chỉ đạo Tây Nguyên, nguyên Tư lệnh Quân khu 7
  • Phó Đô đốc Nguyễn Văn Tình – AH LLVT ND, Nguyên UVBCHTW Đảng, nguyên Chính ủy Quân Chủng Hải Quân
  • Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương – Trưởng BLL CCB Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam tại Lào, nguyên Chính ủy kiêm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, Trưởng BLL của 15 BLL các nhà tù cách mạng Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ LĐ – TB – XH
CCB Lê Xuân Trự "Đánh chốt, không như nhiều người vẫn kể"

CCB Lê Xuân Trự "Đánh chốt, không như nhiều người vẫn kể"

Monday, 21/07/2014, 14:17:00 PM
Mỗi người cựu chiến binh từng kinh qua thời khói lửa đều có những kỉ niệm không thể nào quên. Những năm tháng đó, so với cuộc sống trong một đời có thể không dài lắm. Nhưng trên thực tế, đó là những năm tháng đã theo họ trọn đời, với nghĩa tình và bản lĩnh kiên trung. Gặp gỡ bác Lê Xuân Trự, ở Thành Phố Vinh, được nghe bác kể lại những kí ức tuổi trẻ trên chiến trường, chúng tôi thấy rất xúc động, xin được ghi lại câu chuyện cuộc đời bác Trự.

Mỗi người cựu chiến binh từng kinh qua thời khói lửa đều có những kỉ niệm không thể nào quên. Những năm tháng đó, so với cuộc sống trong một đời có thể không dài lắm. Nhưng trên thực tế, đó là những năm tháng đã theo họ trọn đời, với nghĩa tình và bản lĩnh kiên trung. Gặp gỡ bác Lê Xuân Trự, ở Thành Phố Vinh, được nghe bác kể lại những kí ức tuổi trẻ trên chiến trường, chúng tôi thấy rất xúc động, xin được ghi lại câu chuyện cuộc đời bác Trự.

Thủa nhỏ mình ở quê đi học, cùng chăn trâu cắt cỏ với những đứa trẻ khác. Vừa học hết lớp 7, tháng 4/1968,  theo tiếng gọi của tổ quốc, mình lên đường nhập ngũ đầu quân tại đơn vị K8A, mặt trận B5. Trong đợt tân binh này, hai huyện Nam Đàn và Hưng Nguyên có 500 quân đi. Vào môi trường quân ngũ huấn luyện được hơn một tháng là đi ra chiến trường. Trước lúc lên đường đi B, hầu như 500 quân đều trích 10 đầu ngón tay lấy máu viết quyết tâm thư đi đánh Mỹ. Bây giờ chắc những bức huyết thư đó không còn nữa.

Cuộc đời lính chiến gian lao

Tháng 6/1968, đơn vị vào chiến trường Quảng Trị, trận đầu tiên đánh vào Động Tiên, Động Lóc, rồi Khe Sanh công kích Cù Đinh, Ba De, Cồn Tiên, Dốc Miếu. Hồi đó, toàn đơn vị còn rất trẻ tuổi, 18-19 tuổi, nhưng đánh rất oanh liệt. Vào đơn vị khi đó ông Nguyễn Hữu Thu, người Triều Sơn – Thanh Hóa, làm chính trị viên đại đội; Nguyễn Long Trọng, người Quảng Yên – Quảng Sương – Thanh Hóa, làm đại đội phó; ông Chương, người Can Lộc – Hà Tĩnh làm đại đội trưởng. Đưa lớp này đi toàn anh trẻ đẹp cả, đánh một trận là các vị rất thích thú, cuộc chiến thì khốc liệt. Bước vào đánh trận Cậu Sơn anh em đồng đội hy sinh rất nhiều, đơn vị phải vận chuyển đưa từ Bến Hải sang Vĩnh Ô để mai táng, khiêng tử sĩ 3 ngày ba đêm liền. Sau khi làm lễ truy điệu đồng đội xong, đơn vị tiếp tục hành quân đi chiến đấu.

Tháng 9/1968 toàn bộ đơn vị hành quân ra Tuyên Hóa – Quảng Bình lúc này đúng mùa mưa, trời mưa tầm tã. Đơn vị không có gì ăn phải chọn 20 người để đi gùi sắn, trong đó có mình, phải bơi qua sông Lệ Thủy hàng cây số mới vào được bờ. Sau đánh Cù Đinh, Ba De quay về Lệ Thủy – Quảng Bình an dưỡng gần một tháng. Đến 15/10/ 1968, K8A và K8B sát nhập thành lập trung đoàn 28.

Tháng 11/1968, trung đoàn 28 được lệnh bí mật hành quân bộ vào Tây Nguyên vừa đi vừa làm đường. Gần ba tháng rõng rã, vai vác nặng, dọc đường không còn gạo cả đơn vị phải ăn sắn, rồi ăn rau rừng. Vào đến Kontum bắt đầu ở hậu cứ Đắk Song (ngã ba biên giới, nơi gà gáy ba nước nghe thấy). Ăn xong cái tết, tháng 01 (1969) mặt trận B3 (mặt trận Tây Nguyên) giao cho trung đoàn 28 tiêu diệt một trung đội Mỹ. Trận đầu đánh Chử Đô ra quân loạt đầu tiên đánh diệt gọn một đại đội Mỹ da trắng. Sau đó, mặt trận B3 lệnh cho đơn vị ra bảo vệ trận địa pháo Sa Thầy - cao điểm Chư Hinh. Ra đến đó là đêm, trời thì tối như bưng, ở trong rừng nên đường đi toàn đất đá lởm chởm. Ở đó, đánh trận Chí Đô, đồng chí Vương Tú Hoàng, nguyên khẩu đội phó, người Nông Cống – Thanh Hóa, bị trúng bom na ban cháy cả người nhưng vẫn bắn rơi hai máy trực thăng tại chỗ. Sau đó đồng chí ấy hy sinh. Đơn vị ra Chư Hinh, đúng 10h đêm hôm đó, địch rải hai loạt B52 đúng đội hình của trung đoàn. Quân ta chết nhan nhản, chết vô cùng tận. Đồng chí Dung (sau này làm chủ tịch CCB Nam Đàn) bị thương ở cổ, nhiều người bị thương cụt chân cụt tay phải đưa cả xuống hố bom. Trong đêm nan giải, cơ cực vô cùng. Trời vừa sáng, an hem binh lính đang giải quyết hậu quả thì một đại đội Mỹ da đen ập đến, ta lại phải tiếp tục đánh và tiêu diệt đại đội đó.

Trận đầu tiên bọn mình vào Tây Nguyên là diệt hai đại đội Mỹ, mình tham gia với vai trò một người lính bộ binh – lập chiến công lớn nhất từ khi vào quân ngũ. Tiếp tục đánh 702, 751, 1338, vây ép Play Cần, Biển Hồ - ngâm trong nước mấy ngày đêm liền, vì hắn ở trên đồi - cục diện rất nan giải. Hồi đó không có gì ăn: Không muối, không gạo… quanh năm đói chứ không phải một hai tháng, toàn đơn vị phải ăn rau rừng, ăn củ mài…

Tháng 6 năm 1969, cả chiến trường Tây Nguyên gặp nhiều khó khăn, ngoài đói, còn không có súng đạn, tình hình rất gay go, hầu như là đến mức kiệt quệ. Nếu hành quân ra Bắc thì quá xa. Sang Lào thì cũng không có gì cả. Bắt buộc phải cho đơn vị kéo nhau sang Campuchia chuyển đạn gạo về Việt Nam. Khi đó là mùa mưa ở Phước Long (Bình Phước), hành quân từ Kon Tum vào đó mất hơn ba tháng. Chuyển đạn, gạo về thì vướng đúng một tháng B52. Nan giải lắm, lính chết đói, chết bệnh đủ kiểu. Ăn toàn rau rừng. Lúc đó tình hình lính B2 khả quan hơn rất nhiều. Họ có gạo, có tiền. Quân B3 bị B2 gọi là “mọi rợ”, toàn ăn rau, ăn măng rừng.

2/9/1968 tin Bác mất, đơn vị làm lễ truy điệu, trên đầu B52 rải một tháng ròng. Nguyên lúc đó cậu Chiêu, trung đội trưởng vệ binh, có một người anh vào Nam từ năm 1954, không biết nó liên lạc với nhau từ đâu mà đơn vị hành quân từ ngoài vào toàn bị B52. Đêm hôm đó, hắn lên cắt cổ ông Ẩm - bảo vệ và ông Hoàn – trưởng ban địch vận của đơn vị. Sau hoàn thành đơn vị vận chuyển ra đánh ở Đắk Lắk: Bù Đăng, Đức Lập, Núi Lửa – ngã ba Đắk Song (Đắk Nông). Đánh trận đó thất bại. Đói quá! Có đồng chí Tuyến, là y tá - người Hà Bắc, đào củ mài, cúi xuống lấy củ mài gục xuống chết luôn. Ăn măng rừng, ăn mục nhĩ, cái lá bép, môn ngứa cũng phải nấu lên ăn. Ngứa móc họng cũng phải ăn. Cái bép hay còn gọi là lá mì chính ấy ăn say như thế cũng phải ăn. Ăn hết, ăn toàn rau, bộ đội kiếm lá ăn trụi cả rừng.

Hành quân ra Kon Tum, đi qua Gia Lai, đang mùa khô, nước không có, nắng gắt. Đơn vị phải cho lính dùng B40 bắn voi, sấy khô lên để ăn chống đói không thì chết hết. Hành quân ra đến Kon Tum mất hơn ba tháng. Tiếp tục đánh vây ép Play Cần, 1338,  Ngọc Bờ Biêng, Chư Mom Ray, Ngọc Hồi, Đắc Xiêng, 10F, 702, 751 nói chung đánh liên tục. Đang đánh đồn Đắk Xiêng (1970) thì bộ chỉ huy điều sang Lào. Trung đoàn sang thị xã A-tu-bơ, Bô-lô-ven, hành quân sang đến nơi có chuyện lịch sử đi dọc đường hành quân: lính đói đi lấy sắn lấy măng, đêm mưa bị lạc phải đốt hết cả dép cao su để ra khỏi rừng. Rất cơ cực.

Sang bên Lào, đi thẳng lên cao nguyên Bô-lô-ven. Hai tiếng đánh đuổi 16 tiểu đoàn phỉ Hoàng Bao, đánh xong lấy pà đẹt nếp bỏ vào chõ tre hông xôi ăn thoải mái. Mấy bữa anh nào anh nấy béo tròn đi. Lính nói vui với nhau “kiểu này lính không muốn về nữa, đánh bên Lào sướng quá, lại không ác liệt”. Đến khi đơn vị hành quân về Kon Tum, về Tây Nguyên lại khổ.

Năm 1971, đánh các cứ điểm ở Kon Tum.

Năm 1972, sư đoàn 10, quân đoàn 3 tiến đánh Đắk Tô, Tân Cảnh, Bãi Ủi, Lò Gạch, đánh vào thị xã Kon Tum. Lúc đó có một tiểu đoàn của ta bị xóa sổ ở Kon Tum, không còn lực lượng. Nếu lúc đó có lực lượng đầy đủ thì chỉ cần một đại đội đủ là mình có thể giải phóng thị xã Kon Tum, chứ không phải đợi sang năm 1975. Cuối 1972, mình đã là đại đội trưởng, được cử đi phá ấp giành dân, cả đơn vị phải đi bộ từ Kon Tum vào Đắk Lắk, Bôn Hồ được các cô gái biệt động đón, vào đó chờ kí hiệp định Paris. Lúc đó chỉ cần nó kí xong là mình đánh để chiếm đất, chiếm dân. Trong đó gai cây xấu hổ dày kịt đi, mà bộ đội không có găng tay găng chân gì. Đêm các cô gái bắt nằm chung, một nam một nữ nằm chung. Lính bọn này rầy không dám nằm. Các cô ấy bảo “nếu các anh không nằm chung thì bọn em báo cáo với huyện”. Kết cục, phân tích ra để thế chân kiềng, nằm một nam một nữ khi giặc đến thì đang nằm có thể ngồi dậy là đánh nhau được. Nhưng lúc đó chờ mãi hiệp định Paris vẫn chưa được kí. Thế là chia tay với đội biệt động về Kon Tum. Các cô gái khóc. Bọn mình không biết tên tuổi các cô ấy và ở đâu nữa. Năm đó còn ít tuổi (21, 22 tuổi) mình làm chỉ huy chững chạc lắm, lập phương án, chỉ huy đánh giặc nhưng đối diện với con gái vẫn ngơ ngơ, chả biết gì.     

Năm 1973, kí hiệp định Paris xong, ta chủ động lấn đất chiếm dân. Chính ta đi vây chiếm đất chiếm dân chứ không phải địch. Trong khi vừa kí hiệp định thì ta và địch ngồi với nhau chuyện trò đi bắt cá bắt tép nấu ăn cùng nhau, đánh bóng chuyền với nhau vui vẻ lắm. Quân giải phóng với ngụy quân ngụy quyền như nhau, rất thân thiết. Hiệp định kí xong, hai bên lấn chiếm nhau, hai bên phân chia, chuẩn bị sẵn sàng đánh nhau. Ta lấn chiếm lên Đồi Tròn Trung Nghĩa (Thị xã Kon Tum). Ba tháng ròng rã trên một cái đồi tròn, sáu bảy trăm địch với hai mấy xe tăng. Trong khi đó mình có mấy anh em nằm trên đồi tròn, may mà súng đạn nhiều. Lính khiếp quá, không dám ra. Mình giơ súng AK bắn túi bụi trên đầu hô lính phải lên đánh, không lên đánh thì chết. Thế là cả bọn lao lên đánh từ 10h sáng đến 8h tối thì địch rút. Sau xác chết thối inh ỏi lên. Ba tháng ròng rã không tắm rửa không nước nôi gì. Đêm, anh nào mò lên lấy được bình tông nước chia nhau uống mấy ngày.

Sau đó đơn vị mình đánh giải vây cho trung đoàn 66 (Sư đoàn 10) ở đồi tròn Trung Nghĩa – thị xã Kon Tum, rồi qua đánh cứ điểm Chư Dệt. Trận này, mình bị thương nặng “Đánh nhau tránh sao khỏi được”. Như anh Vũ Khắc Bua, người Nông Cống – Thanh Hóa, đại tá, tư lệnh phó quân đoàn 3, giờ nghỉ hưu rồi, ông ấy đánh nhau trăm lần như một đều bị thương, đều bị về cuối trận, đều vào phần mềm.          

Năm 1974, sư 10 đánh Măng Đen, Măng Bút, giáp Ba Tơ (Quãng Ngãi) diệt gọn cả tiểu đoàn, cả cứ điểm luôn không từ một tên nào, những tên còn lại đều bị bắt. Cuộc chiến tương đối nan giải.

Cuối 1974, mình giữ chức vụ chủ nhiệm pháo trung đoàn, được đi họp mặt trận của bộ chính trị chuẩn bị chiến trường 1975, giải phóng một số thị xã quan trọng làm bàn đạp cho giải phóng toàn miền Nam 1976. Thời điểm đó, sư đoàn 10 đi đến đâu, Mỹ theo tới đó, ta lại mở chiến dịch đến đó. Tình hình chiến trường bắt buộc ta phải lấy một sư đoàn bên Lào về thay chân sư đoàn 10 công kích Kon Tum và Gia Lai. Còn sư đoàn 10 hành quân vào Đắk Lắk chuẩn bị chiến trường đầu tiên là thị xã Gà Nghĩa sau đó là Buôn Ma Thuật, Bu Bơ Răng, Đức Lập, núi lửa, Đắk Nông. Chiến dịch 1975 nổ tiếng súng đầu tiên là ở Bu Bơ Răng, Đức Lập, núi lửa, ngã ba Đắk Song - Đắk Lắk, bộ quyết định mặt trận miền gồm có các đồng chí: Văn Tiến Dũng, Chu Huy Mân, Phạm Hùng chỉ huy, ngoài này là Bác Giáp làm chỉ huy. Bắt đầu, bộ quyết định “Nợ máu phải trả bằng máu”, lệnh cho sư đoàn 10 đánh Bu Bơ Răng, Đức Lập, Núi Lửa, Đắk Song, năm 1969 đã thất bại. Đến tháng 03/3/1975 quay về cùng 316 đánh giải phóng toàn bộ Buôn Ma Thuật. Chiến trường miền Nam cũng là sư đoàn 10 nổ tiếng súng đầu tiên. Lúc đó, địch nhận định sư đoàn 10 ở Kon Tum và Gia Lai nên chúng cho quân ra đó. Ta tổ chức đánh vào hậu cứ, đánh xuống Phước An, Khánh Dương, đèo Phượng Hoàng theo đường 21 về Nha Trang. Về tới Nha Trang, ta cho bắn ba quả pháo. Hắn chạy rồi: Cam Ranh chạy, Ninh Thuận chạy. Phan Rang, Phan Thiết cũng chạy hết rồi. Về đến đó không hề có lực lượng tiếp quản nào vào. Cuối cùng Phan Rang, Phan Thiết bị địch chiếm lại. Còn Cam Ranh thì có tàu biển, máy bay, trung đoàn 28 và sư đoàn 10 đánh. 320 thì đánh Chèo Leo, Phú Bổn, ở đó một thời gian, bộ chính trị quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh. Đang thắng mặt trận miền, Bộ chính trị đề nghị giải phóng miền Nam năm 1975, chứ không phải 1976 như trước. Biết tin ta mở chiến dịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Thiệu nói: “Quân giải phóng vào đến Sài Gòn phải mất hai tháng”. Trên thực tế tình hình hành quân của quân ta khi đó là đúng như vậy, vì quân từ Tây Nguyên phải hành quân bộ vào, không có phương tiện. Chúng nhận định chỉ có quân giải phóng Tây Nguyên vào mới vào giải phóng được Sài Gòn. Quân ngoài Bắc chúng khinh thường. Chúng sợ là sợ quân Tây Nguyên, sư đoàn 10, quân đoàn 3.

Quân đoàn 3 hành quân, anh em binh lính của ta không có con đường nào khác là hỏi địch. Số quân địch ta bắt được bao nhiêu cũng phải phóng thích cả, mình không giữ được, vì rất nhiều vấn đề: Nơi giam giữ, lính canh, và vấn đề quan trọng nhất là lương thực. Ta hỏi chúng “Đứa nào biết lái xe” chúng nhao nhao “Con, con biết lái”. Thế là toàn bộ xe của địch bỏ lại xe zeep, xe DMC… bọn chúng lái được xe gì liền lái xe đưa bộ đội đi. Quân ta bám theo đông không còn biết đường nào cả, dân từ Quảng Trị, Huế, Thừa Thiên, Tây Nguyên tất cả các tỉnh chạy vào đến Cam Ranh thì cầu Ba Ngòi sập, không còn đường đi nữa đành bỏ dân lại. Sau đó lập barie chặn đón xe của dân để chở bộ đội, đích thân chủ xe lái bộ đội đi. Họ rất phấn khởi “Lúc đó có lẽ họ sợ hơn là họ tự nguyện”. Vào đến giới tuyến tập kết ở Dầu Tiếng, cách Sài Gòn 60 km, mất 6 ngày, hành quân là mở đường đi chứ không đi theo đường 1. Dự kiến ta phải đi trong hai tháng nhưng chỉ đi mất có 6 ngày đã đến nơi.

Các cô gái biệt động Sài Gòn ra đón, dẫn đường. Ba cô gái ngồi trên xe bọc thép 113. 3 xe tăng đi qua cầu Sáng, xe thứ tư đến thì sập cầu Sáng. Tiến đánh vào Tân Sơn Nhất, 3 xe vào chiến đấu, hy sinh cả ba. Đơn vị còn lại quay về Đồng Dù, Củ Chi theo trục đường đánh về hướng trại huấn luyện Quang Trung. Trên đường bắt sống hai vạn quân mặc quần xà lỏn ngồi dọc trục đường 13. Sau rồi đánh vào Bà Quẹo, Bảy Hiền, Tân Sơn Nhất và bộ tổng tham mưu.

Khi đánh vào Sài Gòn, dân ra đón rất đông, xe không đi nổi. Họ đưa cơm nắm, bánh kẹo, thuốc lá… cho bộ đội. Bộ đội không lấy là dân họ sợ. Chính sách khi đó của quân giải phóng là không động chạm, không lấy cái gì của dân. Quân giải phóng đánh xong, giải phóng toàn bộ Sài Gòn, là đơn vị kéo nhau về Bình Dương. Tất cả còn lại giao cho quân tiếp quản từ ngoài Bắc vào.

Hoàn thành hai nhiệm vụ

Ở Bình Dương, lúc đó là cuối năm 1975 – đầu 1976, đơn vị cũng không có tiền, toàn quân chia làm ba tầng lớp sĩ quan. Thứ nhất, như bọn mình là số một, cho đi hậu tuyến, ra học ở Sơn Tây. Thứ hai ở lại xây dựng đơn vị. Tầng lớp thứ ba về các huyện tỉnh ở miền Nam xây dựng cơ sở. Đến khi tầng lớp thứ nhất học xong, về đơn vị thì tầng lớp thứ hai cho ra quân. Bây giờ họ bị thiệt thòi, vì khi ra quân không có giấy tờ gì cả nên nhiều anh nhập ngũ những năm 58, 59, 60, 61… sau không có chế độ gì cả. Lúc đó ai cũng chỉ nghĩ còn sống để về là may, nghĩ gì đến hơn thiệt sau này. Tầng lớp thứ ba, kém nhất thì về làm chủ tịch huyện, chủ tịch tỉnh, giám đốc nọ kia… giờ lớp này họ sướng. Chiến tranh để lại nhiều cái bất cập như vậy đấy.

Từ 1976 đến 1978, mình về học lớp tiểu đoàn trưởng ở trường 400 pháo binh. Lúc ra Bắc chưa cưới vợ, yêu lơ mơ lắm, nói đúng ra là chưa biết yêu đương gì. Nhiều cô theo đuổi nhưng còn lơ mơ về tình yêu lắm. Thời gian đó có cô Hà, người Thanh Hóa, làm dược sĩ trong trường 400, trắng trẻo trẻ đẹp lắm, cô ấy yêu rồi cắt tóc thề. Thứ bảy chủ nhật đòi về nhà chơi. Hồi đó cứ ngơ ngơ, không biết gì hết, rầy quá trời. Các cô trường thương nghiệp và các nơi rủ nhau đến trường tìm, mình phải dặn ông cảnh vệ nói là đi diễn tập rồi.

Khi mình trở về đơn vị thì vào đánh Tây Nam. Đang đánh thì đơn vị có lệnh cử hai sĩ quan dẫn 550 quân tuổi 18 – 25 tuổi ra Bắc để giao các trường. Mình không muốn đi, đúng là không thiết tha gì ra Bắc mà chỉ muốn ở lại đánh nhau. Lúc đó, ông Vũ Bá Thước, sư trưởng sư 10, người Cẩm Giàng – Hải Dương, cũng không muốn cho đi. Nhưng bộ tư lệnh, thường vụ quyết định mình phải đi. Ông Thước gọi lên giao cho hai nhiệm vụ một là hoàn thành nhiệm vụ giao quân và hai là phải cưới vợ nhanh rồi vào.

Không còn cách nào, mình phải tuân lệnh cấp trên. Lúc xe đưa quân ra đến Tân Biên thì mình điện tín về, (Lúc đó bà ấy đang học trường thương nhiệp) nội dung là “Ngày 25/9 em có mặt nhà xin phép về tổ chức”. Về giữa cơn bão, đến Quảng Bình thì đường bị tắc, anh nào anh nấy cổ khản đặc, đói quá. Nằm đó hai ngày không kịp tiến độ giao quân, lại không có gì ăn. Đi làm thuê cho dân đường sắt, mỗi ngày được công gói mì tôm. Sau đó đường thông, anh em lên đường ra Vinh. Tới ga Vinh, ông trưởng ga bắt xuống. Nhưng xuống đó không có ai đón, do chậm thời gian hẹn ngày đó không có điện thoại để liên lạc. Lúc ấy còn mắc kẹt cái, khi nghe tin sẽ cưới vợ nên mua gạo, gà, thuốc lá, cau trầu… tất tật từ Tây Ninh. Cũng may biết anh vợ làm bí thư Đảng ủy ở ga Vinh liền cho lính đưa vào phòng anh. Lính thì nhao nhác cả lên “thủ trưởng ơi cho tụi em về”. Mình phải nói với ông trưởng ga cho tàu ra Cầu Giáp rồi dừng hai phút, để quân xuống ở đó chứ xuống ga Vinh thì hắn phá nát ga Vinh. Tàu ra cầu Giáp thì nước ngập mênh mông, không xuống được. Lính lại nhao nhác “thủ trưởng ơi cho tụi em về”. Tình hình như vậy, mình mới lệnh bây giờ ai ở Cao Bằng, Lạng Sơn thì vào mượn nhà dân ở, còn lại cho về tất, đúng 30/9/1978 có mặt trở về trường quân sự, quân khu IV. Mình mượn được cái xe đạp, đạp xe từ cầu Giáp về đến Vinh. Trời mưa như trút, nửa đêm mới về đến quê hương Hưng Hòa. Lúc đó mưa vỡ đê, dân làng sơ tán hết, trong nhà tối bưng, mình phải đi bơi nhà này nhà kia giúp bà con chuyển mèo, chó, lợn, gà… cho họ lên trên trạm. Đến sáng thì cho người nhà lên ga chở gà, chở gạo… về.      

Khi ra quân khu IV, mình được phân cho một phòng riêng, có một cô gái phục vụ. Cô này trắng trẻo đẹp lắm nhưng chẳng hỏi tên là gì. Ăn cơm gạo trắng với cá, không như trong Tây Nguyên tư lệnh quân khu phải ăn bo bo. Cô ta dọn cơm thì mình ở ngoài, đến khi cô ta ra thì mình vào ăn. Mình ăn xong cô ta vào tranh đòi rửa bát. Tắm rửa xong, cô ta cũng vào đòi giặt quần áo, nói là “thủ trưởng ơi để em làm, đó là nhiệm vụ của em”. Suốt ba tháng ròng rã ở đó mà không biết tên cô ta là gì, không dám tiếp xúc.

Ở quân khu VI đến tháng thứ hai thì quân rải rác vào. Quân khu nói “các ông lập valie đón quân”. Đêm nằm nghĩ kiểu này cưới vợ nghe khó. Vậy là liền nhảy lên quê vợ. Xin đăng kí. Ngặt nỗi ở quê vợ không biết mình là ai, vì chưa lên đó bao giờ. Mình lại không có giấy tờ gì. Trình bày với ông bố vợ là tụi con thương nhau thế này thế kia. Ông bố trù tính mãi, cuối cùng thách đố “anh lên ủy ban họ đăng kí cho anh được thì tôi đồng ý”. Thế là mò lên ủy ban, rón rén vào gặp ông phó chủ tịch ủy ban xã Ngọc Sơn – Đô Lương. Nghe mình trình bày câu chuyện, ông ta nói “Gia đình người ta không có ai ở đây, anh lại không có giấy tờ gì, nên không thể đăng kí được”. Mình lại trình bày “Tôi là lính chiến trường, giấy chiến trường ra. Còn giấy tờ xác định chưa vợ chưa gì thì không có, nhân đi công tác nên về cưới luôn. Còn vợ thì bận thi cử không về kịp”. Ủy ban dứt khoát không cho. Thế là ngồi tán chuyện mãi, họ hội ý, rồi cho đăng kí. Trường hợp đặc biệt cho đăng kí kết hôn. Đăng kí xong, về báo cáo để đơn vị bố trí mình ra Sơn Tây.               

Theo đúng kế hoạch mình và bà ấy bàn với nhau sẽ tổ chức cưới luôn ngày 24 ở Đô Lương, 26 ở Hưng Hòa. Lên làm việc với bến xe Đô Lương, họ đồng ý. Mình về trước, bà xã về sau. Bến xe nhất trí. Đến 25 ra bến xe thì thấy thông báo “hôm nay sơ tán tù binh”, không có xe. Mình phải nhảy tăng bo từng đoạn, từng đoạn một về đến Diễn Châu về đến Hưng Hòa. Sáng 26, mình đạp xe đi đón bà chị gái vợ ở trên Vinh, chở cùng đứa cháu 3 tuổi. Trên đường nó bị kẹp chân vào lan hoa, máu chảy loe loét hết, thật cơ cực, mãi 2h chiều mới về đến. Về nhà thì gia đình đã liên hoan xong rồi mà chả thấy chú rể đâu. Ở nhà được bốn hay năm ngày. Mình thấy tình hình bây giờ phải đi, không đi không được, nghĩ cách lừa hai bên gia đình là vào Sài Gòn chơi. Vào Sài Gòn được một ngày rồi đón xe đi Tân Biên đến tòa thánh Tây Ninh. Thăm quan tòa thánh Tây Ninh xong, bắt xe ôm đi ra bến xe Tây Ninh thì pháo 130 bắn ra. Hắn bắn 30 phút tan tành cả. Dân tán loạn cả, mình hô hét dân nằm xuống gốc cây. Bà ấy sợ đòi về. Khi về thì gặp một cậu, bảo cậu ta sáng mình đi sớm, không được nói gì với bà ấy. Sang Campuchia để đánh nhau, sang bàn giao công việc mất một tuần. Về đơn vị đưa gạo và các thứ cho nấu ăn. Có một cô tên Bưởi người Thanh Hóa và cô Loan người Thái Bình – vào thăm chồng, cô Loan đang có thai 3 tháng. Sau chồng cô Loan bị bắn chết, cô ấy không muốn về nữa. Anh em đồng đội phải động viên mãi cô ấy mới chịu về quê.

Tháng giêng 1979, ta mở chiến dịch Campuchia đánh một tuần là đến Bắc Tam Bong, đánh hăng quá qua biên giới Thái Lan mất 60 km. Lúc đó ta không chủ tâm, đang đà đánh cứ thế tiến thôi. Gặp lính Thái, hắn nói “Thaithai” mình không biết tiếng, quân Thái Lan cho cả xe tăng ra án ngữ. Việc này đài BBC nói rùm lên. Nhưng chuyện chẳng có gì, lúc đó hai bên vẫy nhau lại bắt tay, mình xin lỗi đã đánh nhầm. Quân đoàn 3 giúp bạn thành lập chính phủ Campuchia, thành lập tiểu đoàn 15 bàn giao lại cho đơn vị bạn quân khu 7, quân khu 9 – quân đoàn 4, tất cả các đơn vị về biên phòng. Quân đoàn 3 được lệnh ra Việt Bắc.

Giải quyết bất cập thời bình

Cuối 1982, đầu 1983, quân đoàn 3 ra Việt Bắc đánh Trung Quốc. Hết chiến tranh, mình xin về quân khu 4 cho gần nhà. Lúc đó gia đình gặp nhiều khó khăn, cái xe đạp cũng không có mà đi. Quân khu 4 nhận, bảo mình ra làm trung đoàn trưởng trung đoàn, ở Quỳnh Lưu – Nghệ An. Mình không ra. Quân khu lại bảo lên phòng pháo quân khu mình cũng không lên. Mình muốn xin làm trợ lý tác chiến của tỉnh đội, hay huyện đội cũng được không cần quan chức gì, miễn được ở gần nhà là được rồi. Các ông ấy nói “như vậy bằng kỉ luật cậu à”. Mình nói sẽ làm đơn tình nguyện, các ông ấy bảo rằng “quân đội không có tình nguyện”. Vừa hay lúc đó có cậu Khánh, người Nam Định, cùng đơn vị ngày trước, đang làm tổ chức ở tổng cục đường sắt. Thế là mình xin về làm trưởng phòng quân sự phụ trách từ Quảng Bình đến Nam Định. Về đó mình làm được nhiều việc, được thiếu tướng Lê Thế Tiện và thiếu tướng Nguyễn Khánh Toàn tặng bằng khen. Thứ nhất, giải quyết vụ thương binh chắn tàu hỏa từ Vinh ra Hà Nội. Vụ đó kể ra thì cũng đơn giản, không có gì, nhưng nhà nước cũng đã phải đau đầu về trường hợp đó. Hôm ra Hà Nội họp về việc giải quyết vụ thương binh, giờ nghỉ trưa ở ga Hàng Cỏ, lúc đó không quen Hà Nội, đi lững thững ở ga gặp mấy anh lính kéo vào hàng ăn uống. Hắn gọi ba mươi mấy đứa, mình bảo mình không có tiền. Mấy tay lính nói “bữa nay khao thủ trưởng”. Cả bọn ngồi vừa ăn vừa nói chuyện hoàn cảnh gia đình, công việc làm ăn. Họ đều khó khăn nên đi buôn lạc từ miền Trung ra, kiếm đồng lời. Việc buôn lạc bây giờ thì có vấn đề gì đâu, nhưng lúc đó còn bao cấp nên mới nói rùm lên vậy. Mình mới bảo với các cậu ấy, bây giờ cho hai con đường để lựa chọn. “Một là thằng nào còn gọi một tiếng thủ trưởng thì quay về trại 4, không buôn bán nữa. Hai là ai con đi buôn lạc thì gọi mình là thằng”. Họ im lặng không hứa hẹn gì, nhưng sau mình biết họ đã bỏ, không đi buôn nữa.

Vụ việc thứ hai, ở làng Hạc – Thanh Hóa, dân ở đó toàn công giáo, ra quấy phá ga Thanh Hóa rất tàn bạo. Nghe báo cáo thấy ghê gớm quá, không có dân địa phương đâu lại như thế được. Mình xin vào ga giải quyết, công an Thanh Hóa không cho vào, nói là “vào hắn đập chết”. Mình cứ quyết vào. Khi vào mình đó thì gặp tay Cường cầm đầu ở đó. Hắn hỏi mình “là ai, tới đây làm gì”. Mình bảo mình lính chiến trường ra, đi đây đi đó ngắm cảnh thôi. Hắn gọi lại uống nước, ngồi nói chuyện một lúc, hắn nháy đệ tử. Mình cáo về ăn cơm. Hắn giữ lại mời ăn cơm, ăn cơm nếp với thịt gà. Ăn xong hắn bảo từ nay sẽ không còn ai quấy phá ga Thanh Hóa nữa. Sở dĩ hắn và bà con quấy phá là vì tức một số công an, chính quyền ra đó cậy thần cậy thế dọa dân, nên hắn ghét.

Giải quyết vụ đó xong, về họp báo cáo với lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa. Lúc đó đúng là lực lượng công an liên ngành nhiều tay ác ôn lắm. Dân các nơi đi bán hàng rong, hắn đá đổ rất tàn nhẫn. Rất là cám cảnh, người ta vì mưu sinh cuộc sống, nếu anh đàng hoàng thì sắp xếp chỗ cho người ta ngồi bán, người ta phục vụ bà con. Hắn đi đá đổ cả từ cái nồi cháo của người ta. Ngày đó ác ôn lắm. Mình lính từ chiến trường về thấy đời bao cảnh trái ngang vậy, cũng buồn lắm.

Đến năm 1991, xí nghiệp đầu máy Vinh cử ông tổ chức Đảng ủy, cũng nhiều tuổi rồi, về làm trợ lý cho mình. Mình bảo ông ấy: “Anh thay tôi thì được chứ làm trợ lý cho tôi thì không được. Anh không đủ trình độ, làm trợ lý cho tôi thì phải giỏi hơn tôi. Tôi đủ điều kiện nghỉ hưu rồi, anh chưa đủ…” Thế là mình về.

Thử sức với thương trường

Về nhà, mình vay mượn được hai mươi triệu mới đi vào Sài Gòn buôn gạo. Lần đầu thì thắng. Nhưng đến lần thứ hai thì lỗ hết. Trong nhà có cái xe máy 78 cũng phải bán đi trả nợ. Anh em bạn bè cứ nói không lấy, nhưng mình phải trả. Đâu ra đấy. Trả rồi khi khác lại vay. Ra tết, bạn bè anh em động viên, mình lại vay mượn đi buôn gạo, buôn mì tôm, sữa… từ Sài Gòn ra Bắc bán.

Ngày đó nhờ những người quen biết họ cho mình đưa cả lô bột mì trị giá mấy chục ngàn đô la ra Bắc bán, rồi trở vào mới trả tiền. Sau nghĩ, nếu mình tham, bán xong mình không vào nữa thì không biết sẽ thế nào.

Năm 1999, lụt ở Huế, Đà Nẵng chưa đâu đưa được hàng cứu trợ về đó. Mình điện ra ban cứu trợ trung ương hỏi số điện thoại ở Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng. Gọi vào đó trình bày mình có hai xe mì tôm, một xe chở 13 tấn đang nằm trên trục đường 1 địa phận Thừa Thiên Huế, nếu họ gặp được hai xe đó thì đưa về, tỉnh trực tiếp giải tỏa cứu đói cho dân. Không phải báo cáo cho chủ tịch tỉnh hay tổ chức nào, cứ cứu cho dân trước. Còn một xe ở bên Đà Nẵng, đang bị kẹt vì đèo Hải Vân bị lở. Xe ở bên kia, các vị ở bên này chịu không lấy được. Ở ngoài Vinh, Nghệ An cũng tổ chức cứu trợ, dân đưa vật dụng, lương thực đến ban cứu trợ không chịu lấy, họ đòi lấy tiền mặt. Xã hội mình quá phức tạp.  

Năm 2000, một ông lão 93 tuổi có con hy sinh ở Tây Nguyên năm 1973, viết thư hỏi khắp nơi. Họ mới giới thiệu tới gặp mình. Mình mới bảo con cụ hy sinh ngay trước mặt mình, nhưng giờ cũng chẳng biết ở đâu mà bốc mộ được. Ông cụ mới nhờ mình đưa vào nơi con cụ hy sinh. Thế là đưa cả nhà ông cụ vào đó, chỉ cho cụ. Sau phải đưa đi thêm ba lần nữa. Bạn bè đều bảo mình liều, đưa một ông lão 93 đi vào cứ điểm Đắk Xiêng – Kon Tum, xa như vậy.

Cũng năm 2002, mình mua đất ở Nghi Xuân – Hà Tĩnh, trên trục đường 1, xây dựng cây xăng Thái Hậu (Tên bà vợ mình). Xây dựng nhà hàng Tây Nguyên, kỉ niệm chiến trường Tây Nguyên. Tuyển dụng con cháu đồng đội: Từ sứt môi, lồi rốn, què cụt… có hết. Bạn bè có người nói tụi nó vậy thì làm được gì. Vậy mà rồi các cháu làm được việc hết. Cũng năm đó, xảy ra lụt ở Nghệ An, Hà Tĩnh, mình liên lạc được với một đoàn phật giáo Hoa Kì ở chùa Vĩnh Nghiêm - Sài Gòn, mình cho xe chở hàng từ Sài Gòn ra Nghệ An, Hà Tĩnh, gồm năm mươi mấy người. Tiền của thì họ giúp dân mình, còn việc ăn ở đi lại của họ thì mình lo hết. Các địa phương không phải lo bất kể cái gì.

 

Đôi điều chia sẻ

Trải qua thời kì chiến tranh, rồi sau làm kinh tế… sự nghiệp có lúc vinh quang, có khi nhiều mưu lợi, nhưngnhững kí ức thời kì cầm súng vẫn luôn được bác Lê Xuân Trự trân trọng nhất.

Khi được hỏi nhân sinh quan của bác về con người trong thời chiến và bây giờ, bác Trự chia sẻ: Thời chiến đấu, con người sống vô tư, có tình có nghĩa. Khi bắt tay làm kinh tế tình hình trở nên rất nan giải. Chế độ công quyền, nhiều người ỷ thế dọa dân, không còn tình cảm gì.

Lúc nhập ngũ, tuổi còn trẻ vậy, có bác khi nào bác thấy sợ, hay nhụt chí không? Mình nhập ngũ giữa những năm khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Được huấn luyện chưa đầy một tháng để chuẩn bị, rèn luyện rồi viết huyết thư nhảy ra chiến trường đánh luôn. Thời khắc đó hầu như thế cả, cứ ra mặt trận rồi vừa đánh vừa học. Khi vào trận, cho ở tuyến sau không ở, tất cả như nhau lao ra mà đánh. Chết cũng xông vào, đó đã thành một phong trào. Ở tuyến sau thấy buồn lắm. Mấy anh sốt rét, thương binh cho ở tuyến sau vậy mà cũng cố gắng để vượt lên để đánh. Cái máu cách mạng nổi lên mà. Đặc biệt dân miền Trung: Thanh – Nghệ – Tĩnh – Bình Trị Thiên. Tất cả các đơn vị đánh nhau, chỗ nào khó khăn ác liệt nhất là thì có dân mấy tỉnh đó.

Ngoài tham gia như một phong trào, bác có từng nghĩ đến việc lập công? Đương nhiên mình cũng muốn lập công chứ. Lập công là phải diệt càng nhiều địch càng tốt. Năm 1968 – 1975, mình được tặng rất nhiều huân huy chương chiến công, quyết thắng các loại.

Hồi đánh trận ở Chư Dệt, bị thương nặng máu chảy, lấy bùn đắp vào vết thương ba ngày liền. Bản thân mình bị thương cũng vậy, nhìn đồng đội đổ máu hay hy sinh cũng vậy chưa khi nào mình thấy sợ hãy. Lính hồi đó anh nào anh nấy như nhau cả, đã ra trận là không bao giờ sợ, không sợ cái chết, biết chết vẫn lao vào mà đánh. Nếu đánh quân dã ngoại, nghe điện đài của địch thì biết hắn đến tọa độ nào, lực lượng bao nhiêu, tiểu đoàn hay trung đoàn hay đại đội ở bình độ nào. Ta bắt đầu ém vây trong đêm đó, sáng là đánh luôn. Hắn trở tay không kịp. Ta thám thính địch có một tiểu đoàn, ta phải bố trí ba tiểu đoàn. Còn đánh đồn địch thì nan giải hơn, rất kì công, không đơn giản như nhiều anh nói cứ thế lao vào mà đánh được. Ta phải cắt 12, thậm chí là 15 hàng rào dây thép gai. Bên dưới có pháo sáng, mìn, lựu đạn cài khắp nơi. Đêm trước trinh sát của mình phải vào cắt hàng rào, cắt cơ cực lắm, kìm cộng lực phải cắt nhẹ nhàng không làm rung dây thép gai, cắt xong phải dò mìn, lựu đạn bỏ sang bên, pháo sáng lấy chốt không có nó bật một cái là lộ, địch phts hiện nó bắn chết ngay. Cắt xong, mò vào trong chốt giữa khi hắn thức mình vẫn phải mò vào trong xác định vị trí chỗ nào là sở chỉ huy, đâu là điện đài, đâu là hỏa điện, đâu là lô cốt… mà không để địch phát hiện. Xong rồi quay trở ra báo cáo lãnh đạo, lãnh đạo phải đích thân đi kiểm tra, rồi mới cho quân vào đánh. Đầu tiên phải đào hầm, đào cách địch 20, 30 mét thôi chứ không phải đào xa. Trong đêm đó địch thức, ta phải đào hầm mà không để địch phát hiện. Ta tập kết đạn dược, mìn lên cả ba hướng vòng ngoài. Đến sáng, rõ mặt người phát lệnh cái là lao lên đánh, mù mịt khói lửa, địch trở tay không kịp. Ta bắt tù binh, thu vũ khí thu dọn chiến trường chỉ trong mấy phút.

Những năm chinh chiến ở Tây Nguyên, đa phần lính đều không nghĩ đến điều còn sống để trở về. Chúng tôi chỉ ước nhìn thấy mảnh đất Vĩnh Linh (Đại diện cho miền Bắc) 10 phút là chết được rồi. Còn khi đánh ở Campuchia, ta đổ máu quá nhiều, nhiều hơn cả đánh Mỹ.

Bác tham gia đánh giặc vì điều gì? Rất đơn giản để giải phóng quê hương, giải phóng dân tộc. Ý thức đó hoàn toàn tự giác.

Kí ức sâu đậm nhất của bác khi giữ vai trò một người lính là gì? Thời gian là lính bộ binh, kí ức nhớ nhất, cũng là mục tiêu duy nhất là làm sao đánh thắng trận, diệt nhiều địch.

Trong các trận chiến ác liệt như vậy, có khi nào bác sáng tạo, hay nghĩ đến phương pháp mới? Không, ngoài chiến trường điều đó không thể xảy ra. Việc chuẩn bị một trận đánh là mang tính chất tập thể, phương pháp tập thể, tuyệt đối không được chệch. Chệch là chết luôn. Thậm chí người sau phải dẫm lên dấu chân người đi trước để bước. 

Nhưng đánh chốt thì phải sáng tạo, muôn hình muôn vẻ. Trận vây ép Play Cần (1971), mình tìm cách lên chốt. Hắn có 3 mỏm ở trên cao, còn mình ở dưới, đào hầm nước mạch cứ vào. Mình cứ ngóc cái cổ lên vây ép ròng rã thế, đợi hắn mò lên là mình xỉa. Ngược lại, mình mò lên hắn cũng xỉa. Cách nhau mấy chục mét. Cách gì thì cách cũng nhằm mục đích tiêu diệt lực lượng địch. Mình không diệt hắn thì hắn sẽ diệt mình.

Đồi Tròn Trung Nghĩa năm 1973, hắn có hai tiểu đoàn, vây quanh mình. Hắn cũng đào hầm. Mình nhằm đêm xuống tìm cách ném lựu đạn vào hầm hắn, bò sao để hắn không phát hiện, tới khoảng cách nhất định ném xong là phải chạy về ngay. Cứ liên tục như thế ba tháng ròng rã, cuối cùng hắn khiếp, phải rút.

Kí ức nhớ nhất của bác khi làm đại đội trưởng? Hồi đó, đại đội trưởng có uy thế lắm. Quân lệnh như sơn, lệnh gì là lính răm rắp đó. Năm 1974, đánh trận Măng Đen, mình lệnh cho một cậu ở Lạng Sơn bắn DK75, bắn lô cốt để cho bộ binh lên. Cậu ấy bắn không trúng, mình liền đẩy cậu ấy ra, lấy DK75 bắn liền 23 viên đạn, bắn tan tành, thắng toàn bộ, diệt toàn bộ lô cốt. Sau đó ba ngày liền mình không nghe thấy gì cả.

Sau này khi trở thành một doanh nhân, lúc thất bại bác có lo lắng, suy nghĩ nhiều không, vì số tiền 20 triệu lúc đó rất lớn? Thực sự không lo lắng, suy nghĩ gì bởi mình có sự quyết đoán chính xác rồi lại được bạn bè vô tư, tin tưởng mình. Mình cũng tin tưởng bản thân sẽ làm được. Dù mình có thất bại rồi cũng sẽ làm lên được cả.

Khi mình làm từ thiện cũng chỉ có một chữ tâm, một chữ nghĩa tình thôi. Chưa bao giờ mình nghĩ đến điều phải được ca ngợi này kia. Bây giờ ở quê nhiều người giàu có, nhưng chẳng thấy ai xây dựng cho quê hương cái gì. Mình làm đường, làm cầu cống không phải vì ở quê người ta đề nghị, chỉ là mình thấy cần phải làm cho nơi chôn nhau cắt rốn, vậy thôi.

Bác Lê Xuân Trự cũng giữ vững “nguyên tắc sống bất di bất dịch là trung thực, tình nghĩa, không bao giờ lừa dối, làm hại ai. Khi mà cái Tâm thanh thản thì suy nghĩ sẽ sáng suốt, công việc sẽ hanh thông”. Bác luôn đau đáu nỗi mong mỏi “xã hội sẽ tạo điều kiện cho lớp trẻ có học, có tài thực sự được tạo môi trường để cống hiến cho quê hương, cho đất nước. Họ là tài sản quý giá nhất, phải được bố trí những cương vị xứng đáng chứ không phải nhiều vị giành ghế cho con ông cháu cha này nọ ngồi”.

 

Vũ Thu Vân

(nghiatinhdongdoi.vn)

  • Adv01
Bạn có biết?
nghĩa tình đồng đội

TRUNG TÂM HỖ TRỢ NHÂN ĐẠO

ĐC: Số 40 Tổ 3 P. Giang Biên, Long Biên, HN

Điện thoại(84-4) 666 23248 

mail:dungnv@nghiatinhdongdoi.vn

Giám đốc:

Nhạc sỹ Trường Sơn Đào Hữu Thi

--------------------------

QUỸ NGHĨA TÌNH ĐỒNG ĐỘI 

Giám đốc: Nguyễn Văn Dũng

-------------------------

Số TK: 0020135553248 

Tại Sở Giao dịch 

Ngân hàng TMCP Quân đội

Thường trực: 098 555 3248

Danh sách ủng hộ quỹ
  • (25/07/2014)  Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn

    722 Điện Biên Phủ, Phường 22, Q. Bình Thạnh, TP. HCM

    Hỗ trợ Xuất bản Công trình Ký ức người lính 2014

    200.000.000 vnđ (Hai trăm triệu đồng chẵn)

  • (05/08/2014)  Đồng chí Đặng Thanh Hải

    Xóm Chùa, Đoan Bái, Hiệp Hòa, Bắc Giang

    Ủng hộ 3.000.000đ (ba triệu đồng)

  • (25/07/2014)  Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Dương

    Hỗ trợ 5.000.000đ (Năm triệu đồng)

  • (18/02/2012)  CCB Hoàng Văn Tuyên

    Tổ 1, Quang Trung, TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

    Điện thoại: 

    Đã ủng hộ Chương trình Xuân ấm tình Đồng đội

  • (25/01/2014)  CCB Trần Văn Hóa

    Thị trấn Quán Lào - huyện Yên Định - tỉnh Thanh Hóa

    Số điện thoại: 

    Đã ủng hộ 03 triệu đồng

    (về TK ngân hàng Maritimebank)

  • (04/01/2014)  CCB Nguyễn Thế Văn

    Thôn Nam Hải, xã Hải Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa

    Điện thoại: 0902191248

    Đã ủng hộ số tiền 05 triệu đồng 

    (về tài khoản Ngân hàng Quân đội)

  • (26/02/2012)  CCB Nguyễn Thanh Bình

    Phường Cộng Hòa, Thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh

    Điện thoại (đang cập nhật)

    Đã ủng hộ 05 triệu đồng

    (về tài khoản Chương trình "Xuân ấm tình đồng đội")

Doanh nhân
Ngày 15-5, tại Hà Nội, Hội truyền thống Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh ...
  • Liên kết website
    Mạng xã hội