Ban chỉ đạo
  • Tiến sỹ Lê Doãn Hợp – Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam, nguyên UVBCHTW Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông Tin Truyền Thông
  • Thượng tướng, Tiến sỹ - Viện sỹ Nguyễn Huy Hiệu – AH LLVT ND, nguyên UVBCHTW Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
  • Trung tướng Nguyễn Quốc Thước – Nguyên Ủy viên BCHTW Đảng, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, nguyên Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội CCB Việt Nam
  • Trung tướng Nguyễn Trung Thu – AHLLVTND, Phó Tổng Tham mưu trưởng QDNDVN, Nguyên Tư lệnh Quân khu 5
  • Đồng chí Đỗ Quý Doãn - Thứ trưởng Bộ Thông tin & Truyền thông
  • Trung tướng Triệu Xuân Hòa – AH LLVT ND, Phó Trưởng ban chỉ đạo Tây Nguyên, nguyên Tư lệnh Quân khu 7
  • Phó Đô đốc Nguyễn Văn Tình – AH LLVT ND, Nguyên UVBCHTW Đảng, nguyên Chính ủy Quân Chủng Hải Quân
  • Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương – Trưởng BLL CCB Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam tại Lào, nguyên Chính ủy kiêm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, Trưởng BLL của 15 BLL các nhà tù cách mạng Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ LĐ – TB – XH
Đón Tết Giáp Ngọ: Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu nhớ về Trường Sa

Đón Tết Giáp Ngọ: Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu nhớ về Trường Sa

Tuesday, 04/02/2014, 11:17:00 AM
Quân và dân cả nước đang một lòng hướng về Trường Sa thân yêu; chia sẻ, tri ân cùng các cán bộ, chiến sỹ bộ đội hải quân và đồng bào, đang ngày đêm bám trụ biển đảo. Suốt cuộc đời binh nghiệp của mình, Thượng tướng, Viện sỹ, TSKH Quân sự, Anh hùng LLVTND Nguyễn Huy Hiệu có rất nhiều kỷ niệm sâu sắc, trong đó có kỷ niệm về Trường Sa.
Tháng 4/1995, tôi khi đó ở cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng, tham gia Đoàn cán bộ Bộ Quốc phòng ra Trường Sa. Ngày ấy, Trường Sa còn gặp nhiều khó khăn. Sau chiến tranh, chúng ta tiếp quản đảo - trong giai đoạn rất mới, phải xây dựng, kiến thiết, để đảo trở thành căn cứ và pháo đài vững chắc. Bộ đội vô cùng vất vả, người dân sống trên đảo chỉ lác đác. 
 
 
Thượng tướng, Viện sỹ, TSKH Quân sự, Anh hùng LLVTND Nguyễn Huy Hiệu với cây bàng vuông ở Trường Sa
 
 
Vượt qua muôn vàn khó khăn thiếu thốn, cả về vật chất và tinh thần, những người lính đảo Trường Sa vẫn kiên trì ngày đêm luyện tập. Cũng tại chuyến đi đó, cá nhân tôi và nhiều cán bộ đã tham gia chỉ đạo, giúp anh em huấn luyện về nhiều mặt; trao đổi kinh nghiệm cùng bộ đội… 
 
Đi đảo thì nhiều, song với tôi, ấn tượng nhất là 3 đảo lớn: Trường Sa Lớn, Song Tử Tây và đảo Phan Vinh. 
 
Sỡ dĩ mang tên Phan Vinh là bởi tại đảo có những đồng chí, đồng đội, trong đó có Anh hùng Phan Vinh đã hy sinh nên sau này lấy tên đảo là Phan Vinh. Quanh khu vực đảo Phan Vinh, tồn tại những miệng núi lửa. Bộ đội đi tàu hàng chục cây số trên những cái miệng núi lửa đó, nơi xót lại một số tàu buôn ngày xưa bị chìm, còn trơ lên những chiếc cột. Ngày đó, chim hải âu nhiều vô kể. Chúng tôi đi trên tàu cứu hộ có tên “Ti tan” của Đức (chiến sỹ hải quân gọi là tàu Hoa hậu, thường dành cho các đoàn cán bộ cấp cao), ngồi trên tàu mà ngắm chim hải âu thì thích thú phải biết.   
 
Ra Trường Sa, cả đi lẫn về mất chừng 15 ngày, nhiều người say sóng bí tỉ. Vui sao,  những đêm đi câu cá mực, xem hàng trăm chú cá heo “múa lượn” theo tàu… mọi người phần nào quên đi cái sự mệt nhọc. Đi cùng với các đoàn ra Trường Sa, thường có anh chị văn công, tham gia biểu diễn văn nghệ. 
 
Những chuyến ra đảo thường đi vào dịp 30/4, thời điểm sóng êm biển lặng. Ra đảo cuối năm, là thời điểm đưa quà Tết... Vất vả vô cùng. Điện thoại chưa phổ biến, liên lạc giữa đảo khơi và đất liền chủ yếu bằng thư từ. Cánh lính, không gì vui và xúc động bằng nhận được thư nhà, thư người yêu…
 
Sau chuyến đi đó, tôi rất thấm thía về nỗi nhọc nhằn, gian truân của bộ đội ta. Họ luôn ngày đêm luyện tập, thể hiện trách nhiệm cao nhất, ý thức cao nhất, cảnh giác cao độ, sẵn sàng bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
 
Cũng sau lần ấy, một ấn tượng khá thú vị trong tôi đó là chứng kiến 2 loại cây suốt bao năm mặc nắng mưa, sóng gió thét gào, vẫn bền bỉ dẻo dai, gắn với ý chí sắt đá - kiên cường của những người lính Trường Sa và nhân dân trên đảo: cây phong ba và cây bàng vuông. 
 
Ngày xưa, mình đọc trong sách vở thì biết về cây phong ba. Nhưng bây giờ mới được tận mắt chứng kiến cây phong ba. Còn cây bàng vuông, nở hoa vào tháng 4 và tôi rất may mắn được “trông thấy” hoa nở, mới đẹp làm sao, đẹp như trong tranh! 
 
Nơi biên cương hải đảo, khí hậu khắc nghiệt, bộ đội và nhân dân sinh sống – làm bạn cùng những thứ cây này. Tôi chợt nghĩ, cây bàng vuông trên đảo, rất có thể nó sẽ sống được ở đâu đó nơi đất liền. Nghĩ thế thôi, chứ lúc ấy mình chưa có điều kiện để làm điều gì hơn.
 
Hai năm sau, trở lại Trường Sa, tôi không khỏi ngạc nhiên khi chứng kiến quả bàng vuông. Thế rồi, tôi đã quyết định lấy 3 cây bàng lá vuông con, đưa về ươm tại Vũng Tàu, rồi lại thận trọng dịch chuyển tiếp, đưa về ươm tại một gia đình ở Long Thành (Đồng Nai) nhằm cho cây thích nghi dần. Đến khi cây bàng vuông cứng cáp, đúng vào dịp Kỷ niệm Chiến thắng 30/4 thì một cây được đưa về Viện Quân y 175. Cây bàng vuông ngày nào, nay đang kỳ sung sức, cành lá tỏa xum xuê, cứ mỗi độ xuân về lại trổ hoa, kết trái… Duy có 2 cây đưa ra miền Bắc trồng, đã không thành công vì thời tiết lạnh giá không thích hợp.
 
Nhiều người hỏi tôi: “Xuất phát do đâu mà Viện sỹ lại đưa cây bàng vuông về trồng ở đất liền?”. Tôi đã thành thật mà rằng, đưa cây bàng vuông về trồng ở đất liền, một việc làm nhỏ, song nếu thành công – sẽ mang ý nghĩa lớn và trên thực tế đã thành công. Nó thể hiện tình cảm gắn bó keo sơn máu thịt giữa đồng bào trên đất liền với bộ đội, nhân dân Trường Sa và Hoàng Sa thân yêu.
 
Năm 2000, tôi có chuyến đi tiếp ra Trường Sa. Phải nói rằng, huyện đảo Trường Sa  như “được vận chiếc áo lộng lẫy” – đổi thay vượt bậc. 
 
Cả nước hướng về Trường Sa! Sau 5 năm, nơi đây được xây dựng bề thế hơn, hoành tráng hơn xưa rất nhiều, từ trụ sở cơ quan, trường học, nhà cửa tới những con đường chắc chắn, rợp bóng cây. Rau xanh, bầu, bí, chuối… được cấy khắp chốn. Rồi là nuôi heo, gà… 
 
Người dân càng thêm đông đúc. Những chuyến tàu ra đảo gồm các đoàn thuộc nhiều khối cơ quan, tổ chức, đoàn thể thường xuyên hơn. Nhà nước không ngừng quan tâm, đầu tư xây dựng để biển đảo ngày càng hiện đại. Đặc biệt, bộ đội và người dân liên lạc với đất liền rất thuận lợi nhờ vào nhiều nguồn thông tin, phương tiện điện thoại.  
 
Bây giờ, những chiến sỹ tình nguyện ra đảo - được hưởng nhiều chế độ ưu đãi. Sau thời gian công tác, nhiều anh em có điều kiện dành dụm được một khoản tiền kha khá, trở về quê hương xây dựng gia đình, sắm sửa được vài thứ tiện nghi trong nhà, học nghề ra làm… Bộ đội càng thêm vững tin, yêu mến và gắn bó - quyết tâm bảo vệ vùng trời - biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc…
 
Thực tế từ lâu, lập trường của Việt Nam đối với biển Đông, Trường Sa và Hoàng Sa rất rõ ràng.
 
Việt Nam đã nhiều lần khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi tại 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Việt Nam cũng có đầy đủ chứng cứ để chứng minh việc đó cho cả thế giới biết. Từ năm 2002, Trung Quốc và Khối ASEAN đã ký kết Tuyên bố ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) - một tuyên bố về cách ứng xử ở biển Đông, trong đó các bên cam kết sẽ không dùng đến vũ lực. Tất cả các bên tại cuộc họp này đều nhấn mạnh tầm quan trọng của DOC, đồng thời cam kết biến biển Đông thành một khu vực hòa bình, hợp tác và hữu nghị. Trước khi tranh chấp được giải quyết, các bên phải giữ kiềm chế, không có hành động mở rộng, làm phức tạp hóa tranh chấp… 
 
Tình hình phức tạp hiện nay là do khách quan và chủ quan. Những tồn tại trên biển Đông mà do lịch sử để lại thì giải quyết trên cơ sở nhận thức về luật pháp quốc tế, đặc biệt là Luật Biển năm 1982 và Tuyên bố ứng xử theo DOC. Có những vấn đề phải giải quyết bằng đa phương, có những vấn đề phải giải quyết bằng song phương. Cái gì còn tồn tại do lịch sử để lại thì các bên phải giải quyết trên tinh thần đàm phán, hợp tác hữu nghị, tránh để các thế lực khác lợi dụng. Nếu đa phương và song phương mà chúng ta vẫn không thể giải quyết được thì có thể đưa ra Tòa án Quốc tế để giải quyết một cách công khai, minh bạch và khách quan, cũng là để nhân dân thế giới và nhân dân hai nước Việt Nam, Trung Quốc nhận thức đúng.
 
Tôi tin tưởng rằng, các nhà lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc sẽ sớm tìm được cách giải quyết phù hợp với mong đợi của nhân dân thế giới và nhân dân hai nước, nhất là trong tình hình như hiện nay. 
 
 
Thượng tướng, Viện sỹ, TSKH Quân sự, Anh hùng LLVTND Nguyễn Huy Hiệu
  • Adv01
Bạn có biết?
nghĩa tình đồng đội

TRUNG TÂM HỖ TRỢ NHÂN ĐẠO

ĐC: Số 40 Tổ 3 P. Giang Biên, Long Biên, HN

Điện thoại(84-4) 666 23248 

mail:dungnv@nghiatinhdongdoi.vn

Giám đốc:

Nhạc sỹ Trường Sơn Đào Hữu Thi

--------------------------

QUỸ NGHĨA TÌNH ĐỒNG ĐỘI 

Giám đốc: Nguyễn Văn Dũng

-------------------------

Số TK: 0020135553248 

Tại Sở Giao dịch 

Ngân hàng TMCP Quân đội

Thường trực: 098 555 3248

Danh sách ủng hộ quỹ
  • (25/07/2014)  Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn

    722 Điện Biên Phủ, Phường 22, Q. Bình Thạnh, TP. HCM

    Hỗ trợ Xuất bản Công trình Ký ức người lính 2014

    200.000.000 vnđ (Hai trăm triệu đồng chẵn)

  • (05/08/2014)  Đồng chí Đặng Thanh Hải

    Xóm Chùa, Đoan Bái, Hiệp Hòa, Bắc Giang

    Ủng hộ 3.000.000đ (ba triệu đồng)

  • (25/07/2014)  Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Dương

    Hỗ trợ 5.000.000đ (Năm triệu đồng)

  • (18/02/2012)  CCB Hoàng Văn Tuyên

    Tổ 1, Quang Trung, TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

    Điện thoại: 

    Đã ủng hộ Chương trình Xuân ấm tình Đồng đội

  • (25/01/2014)  CCB Trần Văn Hóa

    Thị trấn Quán Lào - huyện Yên Định - tỉnh Thanh Hóa

    Số điện thoại: 

    Đã ủng hộ 03 triệu đồng

    (về TK ngân hàng Maritimebank)

  • (04/01/2014)  CCB Nguyễn Thế Văn

    Thôn Nam Hải, xã Hải Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa

    Điện thoại: 0902191248

    Đã ủng hộ số tiền 05 triệu đồng 

    (về tài khoản Ngân hàng Quân đội)

  • (26/02/2012)  CCB Nguyễn Thanh Bình

    Phường Cộng Hòa, Thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh

    Điện thoại (đang cập nhật)

    Đã ủng hộ 05 triệu đồng

    (về tài khoản Chương trình "Xuân ấm tình đồng đội")

Doanh nhân
Ngày 15-5, tại Hà Nội, Hội truyền thống Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh ...
  • Liên kết website
    Mạng xã hội