Ban chỉ đạo
  • Tiến sỹ Lê Doãn Hợp – Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam, nguyên UVBCHTW Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông Tin Truyền Thông
  • Thượng tướng, Tiến sỹ - Viện sỹ Nguyễn Huy Hiệu – AH LLVT ND, nguyên UVBCHTW Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
  • Trung tướng Nguyễn Quốc Thước – Nguyên Ủy viên BCHTW Đảng, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, nguyên Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội CCB Việt Nam
  • Trung tướng Nguyễn Trung Thu – AHLLVTND, Phó Tổng Tham mưu trưởng QDNDVN, Nguyên Tư lệnh Quân khu 5
  • Đồng chí Đỗ Quý Doãn - Thứ trưởng Bộ Thông tin & Truyền thông
  • Trung tướng Triệu Xuân Hòa – AH LLVT ND, Phó Trưởng ban chỉ đạo Tây Nguyên, nguyên Tư lệnh Quân khu 7
  • Phó Đô đốc Nguyễn Văn Tình – AH LLVT ND, Nguyên UVBCHTW Đảng, nguyên Chính ủy Quân Chủng Hải Quân
  • Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương – Trưởng BLL CCB Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam tại Lào, nguyên Chính ủy kiêm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, Trưởng BLL của 15 BLL các nhà tù cách mạng Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ LĐ – TB – XH
Bộ đội Hoá học trong Tổng tiến công nổi dậy mùa xuân năm 1975

Bộ đội Hoá học trong Tổng tiến công nổi dậy mùa xuân năm 1975

Wednesday, 21/09/2016, 08:58:00 AM
Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết ngày 27/1/1973 là thắng lợi có ý nghĩa hết sức quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân và dân ta. Tuy nhiên sau Hiệp định, trên danh nghĩa là rút hết quân, Mỹ vẫn để lại 20.000 cố vấn quân sự đội lốt dân sự để giúp chính quyền Nguyễn Văn Thiệu; họ tiếp tục viện trợ đưa thêm nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh vào miền Nam. Đặc biệt tất cả các kho tàng, phương tiện sử dụng chất độc hoá học Mỹ bàn giao lại cho Quân đội Sài Gòn, nên khi ta tấn công lớn, bị thất bại và có nguy cơ tan rã, rất có thể địch sẽ liều lĩnh dùng chất độc hoá học với quy mô lớn để cứu vãn tình thế.

Trong 2 năm đấu tranh thi hành hiệp định Pa-ri (1973-1974), thế và lực của cách mạng miền Nam có những bước phát triển mạnh mẽ. Ta giành thế chủ động trên chiến trường, giải phóng nhiều vùng rộng lớn, tạo được thế chiến lược liên hoàn, xây dựng các binh đoàn chủ lực cơ động mạnh, tạo được bàn đạp xung quanh và trong đô thị, đồng thời được thế giới đồng tình ủng hộ. Tương quan lực lượng giữa ta và địch thay đổi cơ bản, ta mạnh hơn hẳn địch, quân đội Sài Gòn suy yếu toàn diện không thể gượng lại được trong khi Mỹ gặp nhiều khó khăn, không đủ sức chi viện và can thiệp để cứu nguy cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Dưới ánh sáng Nghị quyết 21 của Trung ương Đảng (10/1973) và Nghị quyết của Quân ủy Trung ương (3/1974), lực lượng vũ trang cả nước vừa chiến đấu, vừa khẩn trương tiến hành các mặt công tác, chuẩn bị lực lượng, sẵn sàng đón thời cơ tổng tiến công “đánh cho nguỵ nhào”, hoàn thành thắng lợi cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Thực hiện quyết tâm chiến lược của Đảng, Bộ đội Hoá học được giao nhiệm vụ sẵn sàng bảo đảm phòng hoá cho tất cả các lực lượng tham gia chiến đấu.

 

Trên cơ sở tính toán, so sánh thế và lực giữa địch và ta về mặt hoá học trên chiến trường, Cục Hoá học đã nhận định: Mặc dù sau khi Mỹ rút quân, việc sử dụng chất độc hoá học của Quân đội Sài Gòn giảm nhiều, nhưng chúng ta vẫn phải cảnh giác, chủ động chuẩn bị đề phòng vì trong thế thất bại, địch có nhiều khả năng sử dụng chất độc hoá học trong chiến đấu, phổ biến vẫn là loại chất độc kích thích nhưng với mức độ tập trung hơn ở những khu vực nhất định. Đồng thời, cũng có khả năng địch sẽ sử dụng chất độc có độc tính cao tiêu diệt mục tiêu chủ yếu khi vào đường cùng, điều này đòi hỏi Bộ đội Hoá học phải nâng cao trình độ kỹ thuật chuyên môn mới đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tác chiến.

 

Với nhận định đánh giá như vậy, chủ trương công tác năm 1975 được Cục Hoá học đề ra là chấn chỉnh tổ chức hợp lý, bồi dưỡng nâng cao chất lượng công tác và chiến đấu, khi có nhiệm vụ có thể bảo đảm khí tài phòng hoá được trên một hướng chiến dịch, đồng thời xây dựng thêm một bước về các mặt cơ sở vật chất, kỹ thuật. Tổ chức huấn luyện cơ bản, vững chắc theo nhiệm vụ chiến đấu, khẩn trương nâng cao trình độ kỹ thuật chuyên môn, đồng thời triển khai chuẩn bị điều kiện, kế hoạch huấn luyện cơ bản có hệ thống cho các năm sau. 

 

Thực hiện chủ trương trên, Cục Hoá học đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc như Tiểu đoàn 901, Tiểu đoàn 902, Kho Khí tài 61, Xưởng X61 và các cơ quan đơn vị hoá học trong toàn quân tranh thủ thời gian, khẩn trương chuẩn bị mọi mặt để tiến hành công tác bảo đảm phòng hoá cho cả ba thứ quân, tham gia chiến đấu bằng súng phun lửa và màn khói. Phòng Kỹ thuật, Kho Khí tài 61, Xưởng X61 tập trung cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng làm việc ngày đêm, bao gói, cấp phát hàng chục vạn mặt nạ, hàng trăm ngàn ống chống khói độc, hàng nghìn khí tài tiêu độc để chi viện cho chiến trường.

 

Ngay từ đầu năm 1975, Kho Khí tài 61 đã chủ động xây dựng kế hoạch chuẩn bị bảo đảm phòng hoá cho hoạt động chiến đấu; theo lệnh của Bộ, Kho đã vận chuyển, cấp phát cho chiến trường hàng trăm tấn khí tài phòng hoá, hàng chục xe đặc chủng. Riêng chiến trường B2 và Quân đoàn 1 đã được bổ sung 75.000 mặt nạ các loại. Công tác bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa khí tài tiếp tục được đẩy mạnh; đã tổ chức niêm cất được 25 xe, dồn đảo hàng bảo quản được 73 tấn khí tài và hoá chất; đã chuẩn bị thêm hàng trăm tấn khí tài, hàng chục xe đã được phá niêm cất, nạp đủ nhiên liệu, có đủ lái xe, cán bộ áp tải hàng sẵn sàng lên đường đưa hàng ra mặt trận.

 

Tại Xưởng X61, do yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu đòi hỏi khẩn trương, ban chỉ huy Xưởng đã nhanh chóng ổn định, bổ sung quân số để bắt tay vào sản xuất, sửa chữa phục vụ chiến đấu. Theo kế hoạch, trong năm 1975, bộ phận cơ khí phải gia công 250 thùng và 1.500 hộp để đựng 10 tấn khói đặc, sửa 50 khẩu súng phun lửa, 12 xe trinh sát, 6 xe 12Y bảo đảm chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Trước tình hình khẩn trương, xưởng đã đóng 300 hòm để đóng gói mặt nạ gửi đi chiến trường, trực tiếp sửa chữa súng phun lửa, xe trinh sát, xe 12Y cho Tiểu đoàn 901, Quân đoàn 1 và các đơn vị khác.

 

Các phân đội trinh sát hoá học, tiêu độc, thả khói, phân đội phun lửa của hai Tiểu đoàn 901, 902 nhanh chóng được kiện toàn tổ chức, bổ sung quân số, trang bị vũ khí, phương tiện xe máy, sẵn sàng lên đường chiến đấu. Cùng với đó công tác đảng, công tác chính trị được tiến hành rộng khắp để bảo đảm tốt cho những người đi chiến đấu và cả những người ở lại làm nhiệm vụ chuẩn bị. Một phong trào tình nguyện đi chiến đấu lan rộng khắp cơ quan và đơn vị.

 

Chiến dịch Tây Nguyên mở đầu cho cuộc Tổng tấn công mùa Xuân năm 1975. Buôn Mê Thuột được giải phóng ngày 10/3 (Ảnh tư liệu)

 

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 bắt đầu bằng Chiến dịch Tây Nguyên (từ 04/3 đến 03/4/1975), sau đó đến Chiến dịch Huế-Đà Nẵng (3/1975). Qua hai chiến dịch, quân và dân miền Nam đã giành được nhiều thắng lợi to lớn; tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng sinh lực địch; phá bỏ toàn bộ hệ thống chính quyền Việt Nam cộng hoà ở hai khu vực này; giải phóng một vùng rộng lớn gồm 16 tỉnh và 5 thành phố (Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Đà Lạt) cùng một số quận lỵ, chi khu, yếu khu quân sự thuộc Nam bộ.

 

Quân giải phóng tiến vào cố đô Huế, giải phóng thành phố ngày 26/3 (Ảnh tư liệu)

 

Trước sự phát triển nhanh chóng của chiến trường, các đại đội hoá học của Tiểu đoàn 901 đã được lệnh huấn luyện khẩn trương hơn, các loại trang bị xe máy, khí tài phòng hoá được chuẩn bị sẵn sàng, nhận lệnh là đi chiến đấu ở chiến trường được ngay. Tại các quân khu, quân đoàn, quân binh chủng có kế hoạch tham gia các chiến dịch, lực lượng hoá học cũng được chuẩn bị sẵn sàng để bảo đảm phòng hoá cho bộ đội trên các hướng chiến dịch, các mũi tiến công của ta.

 

Khi ta mở chiến dịch Tây Nguyên, đại đội hoá học của Sư đoàn 316 chuẩn bị khá chu đáo đã được giao nhiệm vụ cùng sư đoàn mở màn chiến dịch, sử dụng súng phun lửa đánh vào các mục tiêu của địch tại sân bay Hoà Bình và căn cứ Mai Hắc Đế, góp phần cùng các lực lượng khác tiêu diệt Sư đoàn 23 Quân đội Sài Gòn.

 

Sau khi chiến dịch Tây Nguyên giành thắng lợi, Cục Hoá học đã tích cực chuẩn bị cho các phân đội sẵn sàng nhận lệnh và cử các cán bộ tham mưu, kỹ thuật cùng đoàn cán bộ của Bộ Tổng Tham mưu tăng cường cho các mặt trận. Tham gia chiến dịch Huế - Đà Nẵng có đồng chí Phạm Văn Chí, sau đó có thêm bốn đồng chí theo các cánh quân của ta vào Sài Gòn và Nam Bộ là Nguyễn Bỉnh Triêu, Cao Hải Ninh, Quách Công Hợi và Vũ Ngọc.

 

Chiến dịch Huế - Đà Nẵng phát triển thuận lợi và kết thúc nhanh chóng, cán bộ, chiến sĩ hoá học Quân khu 5 đã khẩn trương thu hồi các loại vũ khí và phương tiện chiến tranh hoá học của địch gồm bom mìn hoá học, chất độc, chất cháy tại các căn cứ, sân bay, kho tàng, bến cảng, trên trục đường số 1, bảo đảm an toàn cho các lực lượng vũ trang của ta tiến nhanh trong chiến dịch giải phóng hoàn toàn miền Nam và bảo đảm an toàn cho cả nhân dân vùng mới giải phóng.

 

Cùng trong chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng, thành phố thủ phủ miền Trung về tay Quân Giải phóng ngày 29/3 (Ảnh tư liệu)

 

Quân đoàn 4 là lực lượng chủ lực của Miền, công tác bảo đảm phòng hoá ở đây đã được các cấp khẩn trương chuẩn bị từ trước. Lực lượng hoá học Sư đoàn 341 do đồng chí Trần Viện làm chủ nhiệm đã hoạt động rất tích cực. Tại các trung đoàn 230, 270, 266 trực thuộc sư đoàn, cán bộ hoá học có các đồng chí Đào Thanh Giang, Nguyễn Nho Tịnh, Lê Huy Khang đã tổ chức huấn luyện nhiều ngày cho cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn về nội dung công tác phòng hoá, đồng thời chủ động cấp phát khí tài phòng hoá cho bộ đội trước khi bước vào chiến dịch.

 

Tại Quân đoàn 1, để chuẩn bị cho hoạt động đông xuân, Cục Hoá học đã cấp phát hàng vạn mặt nạ, ống chống khói độc và các loại trang bị, khí tài khác bảo đảm cho 50% quân số của Quân đoàn. Đồng thời cơ quan hoá học Quân đoàn cũng được kiện toàn do đồng chí Trịnh Minh Quát làm chủ nhiệm. Phân đội hoá học Quân đoàn tổ chức thành một đại đội do đồng chí Trần Quang Lương làm đại đội trưởng, đồng chí Hoà làm chính trị viên,  trong biên chế đại đội có đủ các thành phần trinh sát, tiêu độc; đại đội được trang bị xe trinh sát phóng xạ hoá học, xe tiêu độc và hàng tấn chất tiêu độc 3/2. Đồng thời Bộ tăng cường cho Quân đoàn một trung đội phun lửa.

 

Xe tăng Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc lập sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 (Ảnh tư liệu)

 

Ngày 15 tháng 3 năm 1975, Quân đoàn 1 được lệnh của Bộ đi tham gia chiến dịch, lực lượng hoá học đã tổ chức hành quân trong đội hình quân đoàn, thực hiện nhiệm vụ phòng hoá cho quân đoàn trong từng giai đoạn hành quân chiến đấu. Chỉ trong một thời gian ngắn, theo quốc lộ 1, Quân đoàn thẳng tiến hướng Nam đến ngã ba Đông Hà rẽ phải theo Đường 9 qua Khe Sanh, Lao Bảo đến Ngã ba biên giới, theo quốc lộ 14 vào phía Nam đến đồn điền cao su Đồng Xoài dừng chân, tại đây làm công tác chuẩn bị để tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn thống nhất đất nước.

 

Theo kế hoạch, phân đội hoá học được chia thành hai bộ phận, một bộ phận  bảo đảm cho sở chỉ huy hậu phương và các binh chủng phía sau; một bộ phận bảo đảm cho sở chỉ huy phía trước. Bộ phận thứ nhất còn có nhiệm vụ bảo đảm phòng hoá cho lữ pháo binh đang là thành phần chính của cụm pháo binh quân đoàn và bảo đảm cho lữ pháo cao xạ đang ở vị trí chiến đấu, sẽ di chuyển theo đội hình đánh thọc sâu. Bộ phận này do đồng chí Đặng Văn Chương chỉ huy, có các đồng chí Hoa, Tuất, khi chiến dịch phát triển sẽ di chuyển theo sở chỉ huy phía trước về phía thành phố Sài Gòn.

 

Sở chỉ huy phía trước có các đồng chí Trịnh Minh Quát, Trần Thế Viễn, đồng chí Tâm, kèm theo 2 đội hoá học đi cùng. Đội quan sát, trinh sát hoá học cơ động trang bị 1 xe trinh sát GAS-69RKh đủ khí tài do Thượng sĩ Nguyễn Văn Kỳ lái, Hạ sĩ Nguyễn Văn Quang chỉ huy và 4 trinh sát viên. Đội tiêu tẩy với đầy đủ thành phần xe, khí tài, chất tiêu độc 3/2 do đồng chí Trần Quang Lương - đại đội trưởng trực tiếp chỉ huy.

 

Cơ quan hoá học chiến dịch đã hoàn thành các văn kiện kế hoạch bảo đảm phòng hoá và trong buổi thông qua đã được các đồng chí Nguyễn Hoà, Nguyễn Thế Bôn, Hoàng Minh Thi trong sở chỉ huy Quân đoàn đánh giá khá tốt. Kế hoạch phòng hoá này đã được các đơn vị thực hiện triệt để trong chiến dịch.

 

Phân đội hoá học theo kế hoạch đã lập đài quan sát hoá học bảo đảm cho sở chỉ huy Quân đoàn, mở các trạm tiêu tẩy. Đài quan sát được đặt trên một cây cao có tầm nhìn xa, có thang lên xuống, có nơi ăn nghỉ cho quan sát viên. Bộ đội đã đào những hố sâu chứa nước, lót nilon để mở trạm tiêu tẩy. Các trợ lý hoá học ở các đơn vị đã bám sát đội hình hành quân, chủ động tham mưu cho chỉ huy và làm mọi công tác chuẩn bị phòng hoá cho bộ đội.

 

Trong suốt quá trình chiến dịch, cơ quan và phân đội hoá học Quân đoàn 1 đã theo sát sở chỉ huy, làm mọi công tác bảo đảm cho Sư đoàn Chiến Thắng "quét sạch" các cứ điểm ngoại vi để tiến đánh căn cứ Tân Uyên, sau đó là Sư đoàn 5 Quân đội Sài Gòn; bảo đảm cho Sư đoàn Đồng Bằng đánh căn cứ Phú Lợi, chọc xuống Lái Thiêu rồi thọc sâu đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Sài Gòn. Khi sở chỉ huy phía trước di chuyển đến vị trí II bên bờ Sông Bé là lúc Quân đoàn 1 đã triển khai xong kế hoạch chiến đấu cho chiến dịch cuối cùng giải phóng hoàn toàn miền Nam. Một xe chở khí tài hoá học theo lữ đoàn cao xạ đã bị máy bay địch bắn cháy. Đồng chí Nguyễn Văn Quế có nhiệm vụ áp tải hàng đã anh dũng hy sinh. Sở chỉ huy tiếp tục di chuyển đến vị trí III là cứ điểm Vĩnh Thịnh, nơi đêm hôm trước mới được Sư đoàn Chiến Thắng giải phóng. Cơ quan hoá học đã khẩn trương chuẩn bị mọi mặt công tác bảo đảm tiếp theo cho Quân đoàn.

 

Nhân dân Miền Nam chào đón đoàn Quân Giải phóng (Ảnh tư liệu)

 

Trên hướng tiến công vào phía Bắc Sài Gòn, phân đội súng phun lửa của Quân đoàn 1 được tăng cường cho Sư đoàn 312 đánh chiếm căn cứ Phú Lợi - Thủ Dầu Một. Chiến sĩ phun lửa, binh nhất Lê Thế Xuất đã bắn hai phát phun lửa dập tắt hai ụ súng của địch, tạo điều kiện cho bộ binh giành thắng lợi. Đồng chí Lê Thế Xuất sau chiến dịch được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh, Đại đội hoá học Quân đoàn 1 được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì.

 

Trong thành phần Bộ chỉ huy cánh quân phía Đông chiến dịch Hồ Chí Minh có các đồng chí Đỗ Hữu Nhượng, Nguyễn Văn Tiến, Phạm Chấp, Nguyễn Chính Quân là cán bộ của Cục Hoá học được phái vào phụ trách chuyên môn phòng hoá đã phối hợp hiệp đồng cơ quan chức năng chỉ đạo sâu sát các lực lượng hoá học, tổ chức đài quan sát bảo đảm cho sở chỉ huy và các trận địa pháo.

 

Như vậy, khi bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh, lực lượng hoá học Quân đoàn 1, Sư đoàn 341 của Quân đoàn 4, Sư đoàn 316 của Quân đoàn 3 đã chuẩn bị sẵn sàng khí tài, phương tiện và các phương án bảo đảm phòng hoá cho bộ đội tham gia chiến đấu đạt hiệu quả tốt.

 

Do diễn biến chiến đấu phát triển thuận lợi, ta luôn ở thế áp đảo nên trong suốt quá trình chiến dịch, địch không có thời cơ sử dụng chất độc hoá học để đánh lại ta, bộ đội không phải giải quyết hậu quả một tình huống hoá học nào.

 

Cùng với cuộc tổng tiến công nổi dậy và trong chiến dịch Hồ Chí Minh, thực hiện Chỉ thị số 08/126/QUTƯ của Quân ủy Trung ương về việc thu hồi, quản lý, bảo quản, sử dụng các cơ sở vật chất kỹ thuật lấy được của địch trong vùng giải phóng, Cục Hoá học cử một đoàn cán bộ các cơ quan tham mưu, khí tài, kỹ thuật do Thiếu tá Trần Kỳ Doanh Trưởng Phòng Kỹ thuật làm Trưởng đoàn, tham gia đoàn có các đồng chí Nguyễn Dần, Lê Liêm, Hoàng Quốc Sử, Hoàng Trọng Luân, Đinh Ngọc Thạch, Lê Huy Du. Đoàn đã vào Khu 5, Nam Bộ, Sài Gòn cùng cán bộ các quân khu, quân đoàn, quân binh chủng thị sát, kiểm tra các sân bay như Đà Nẵng, Phú Bài, Biên Hoà, Tân Sơn Nhất, Cần Thơ, các căn cứ phòng thủ, các kho của Tổng kho Hoà Cầm, Long Bình. Những số liệu thu thập đánh giá thực trạng vũ khí trang bị hoá học của địch như bom napan, tên lửa téc mít và bom chân không CBU55B, CS1, CS2…, phương tiện, tài liệu hoá học khác giúp Cục Hoá học tham mưu cho Bộ đề ra chủ trương thu hồi bảo đảm an toàn cho bộ đội, nhân dân và phục vụ cho công tác nghiên cứu sau này. Đồng thời, lực lượng hoá học Quân đoàn 1 do đồng chí Trịnh Minh Quát phụ trách đã tiến hành trinh sát phóng xạ lò phản ứng nguyên tử Đà Lạt, kiểm tra các nhà máy nước, các nguồn nước dùng, bảo đảm an toàn cho bộ đội và nhân dân…

 

Cục Hóa học chỉ đạo các đơn vị tiến hành thu hồi, kiểm kê, phân loại chất lượng, bảo quản, sắp xếp lại khí tài còn tốt; đồng thời sửa chữa các loại vũ khí trang bị kỹ thuật và cơ sở hạ tầng quân sự của địch hỏng hóc có thể khắc phục được để đưa vào sử dụng cho trước mắt và lâu dài; lập kế hoạch, tiến hành xử lý các loại vũ khí, trang bị, phương tiện hóa học thu được của địch cần hủy ngay nhưng phải bảo đảm an toàn cho người và làm sạch môi trường.

 

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta kết thúc thắng lợi, mà đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Trong sự nghiệp cứu quốc vĩ đại ấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp là Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; với tinh thần chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường Bộ đội Hoá học đã nỗ lực xây dựng, phát triển và trưởng thành từng bước, từ bảo đảm phòng hoá, tham gia chiến đấu bằng súng phun lửa, bằng màn khói; từ các trận chiến đấu, đến các chiến dịch, hiệp đồng quân binh chủng với trình độ ngày càng cao. Đồng thời tích cực khắc phục tình trạng thiếu thốn vũ khí trang bị kỹ thuật bằng cách sáng tạo ra các loại trang bị khí tài ứng dụng, thô sơ cung cấp cho lực lượng vũ trang và nhân dân. Trong hoạt động phòng chống, Bộ đội Hoá học luôn phát huy tốt vai trò nòng cốt của mình với phong trào phòng hoá rộng rãi trong toàn quân và nhân dân; đã kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền vận động nhân dân đấu tranh chính trị, thu thập bằng chứng tố cáo địch trong các hội nghị quốc tế; tổ chức cho lực lượng vũ trang và nhân dân phòng chống hiệu quả các đợt Quân đội Mỹ, Quân đội Sài Gòn phun rải hàng triệu lít chất độc diệt cây và hàng nghìn tấn chất độc CS trên chiến trường miền Nam. Cùng với đó là tham gia hàng trăm trận chiến đấu bằng súng phun lửa, thả khói nguỵ trang cho mục tiêu và nghi binh lừa địch, lập nên những chiến công vẻ vang, xây dựng nên truyền thống: "Phòng chống tốt, chiến đấu giỏi". Với những chiến công và thành tích đạt được, Bộ đội Hoá học đã được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại./.

 

Nguyễn Thanh Tùng - Bộ đội hóa học

  • Adv01
Bạn có biết?
nghĩa tình đồng đội

TRUNG TÂM HỖ TRỢ NHÂN ĐẠO

ĐC: Số 40 Tổ 3 P. Giang Biên, Long Biên, HN

Điện thoại(84-4) 666 23248 

mail:dungnv@nghiatinhdongdoi.vn

Giám đốc:

Nhạc sỹ Trường Sơn Đào Hữu Thi

--------------------------

QUỸ NGHĨA TÌNH ĐỒNG ĐỘI 

Giám đốc: Nguyễn Văn Dũng

-------------------------

Số TK: 0020135553248 

Tại Sở Giao dịch 

Ngân hàng TMCP Quân đội

Thường trực: 098 555 3248

Danh sách ủng hộ quỹ
  • (25/07/2014)  Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn

    722 Điện Biên Phủ, Phường 22, Q. Bình Thạnh, TP. HCM

    Hỗ trợ Xuất bản Công trình Ký ức người lính 2014

    200.000.000 vnđ (Hai trăm triệu đồng chẵn)

  • (05/08/2014)  Đồng chí Đặng Thanh Hải

    Xóm Chùa, Đoan Bái, Hiệp Hòa, Bắc Giang

    Ủng hộ 3.000.000đ (ba triệu đồng)

  • (25/07/2014)  Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Dương

    Hỗ trợ 5.000.000đ (Năm triệu đồng)

  • (18/02/2012)  CCB Hoàng Văn Tuyên

    Tổ 1, Quang Trung, TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

    Điện thoại: 

    Đã ủng hộ Chương trình Xuân ấm tình Đồng đội

  • (25/01/2014)  CCB Trần Văn Hóa

    Thị trấn Quán Lào - huyện Yên Định - tỉnh Thanh Hóa

    Số điện thoại: 

    Đã ủng hộ 03 triệu đồng

    (về TK ngân hàng Maritimebank)

  • (04/01/2014)  CCB Nguyễn Thế Văn

    Thôn Nam Hải, xã Hải Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa

    Điện thoại: 0902191248

    Đã ủng hộ số tiền 05 triệu đồng 

    (về tài khoản Ngân hàng Quân đội)

  • (26/02/2012)  CCB Nguyễn Thanh Bình

    Phường Cộng Hòa, Thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh

    Điện thoại (đang cập nhật)

    Đã ủng hộ 05 triệu đồng

    (về tài khoản Chương trình "Xuân ấm tình đồng đội")

Doanh nhân
Ngày 15-5, tại Hà Nội, Hội truyền thống Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh ...
  • Liên kết website
    Mạng xã hội